Quách Tử Hưng đột nhiên giá lâm, Trương Hy Mạnh cũng trở tay không kịp.
Hắn đã nhìn thấu bản chất yếu đuối của Quách Tử Hưng. Chỉ cần Chu Trọng Bát đủ bản lĩnh, Quách Tử Hưng ắt sẽ cúi đầu. Có điều lão cúi đầu nhanh quá, khiến Trương Hy Mạnh ngẩn người.
Hay là lão đã đến lúc già yếu, hết sức gắng gượng nổi rồi?
Trương Hy Mạnh đoán mò. Chu Trọng Bát không có ở đây, hắn cũng chẳng có đường nào dò tin. May mà còn có Mã thị.
Có lẽ nhờ đôi chân lớn nên đi nhanh, tin tức cũng linh thông, chưa đầy một canh giờ, Mã thị đã hỏi rõ chuyện bên ngoài. Nàng vội vã trở về, vẻ mặt đầy lo âu, tìm Trương Hy Mạnh bàn bạc.
- Tiểu tiên sinh, lần này quân Nguyên kéo đến hơn mười vạn, nhiều hơn tin trước ít nhất gấp ba lần!
Giọng Mã thị run lên.
- Nhiều đến thế ư?
Trương Hy Mạnh thất kinh, vội hỏi lại. Mã thị mặt tái nhợt, gật đầu. Người bình thường cả đời chưa chắc đã thấy cảnh mấy vạn người tụ tập, huống hồ đây là hơn mười vạn quan quân hung hãn như lang sói!
So với chuyện ấy, mấy vụ lùm xùm của đám lái buôn lương thực hay những toan tính riêng của Quách Tử Hưng đều chẳng đáng kể. Thế là ông con rể Chu Trọng Bát và nhạc phụ Quách Tử Hưng lại vội vã trở thành người một nhà, hòa thuận yêu thương nhau.
Trương Hy Mạnh cũng gác ý định đấu trí với Quách Tử Hưng sang một bên, dồn hết tâm trí vào trận đại chiến sắp tới.
Khi ấy đã là cuối năm Chí Chính thứ mười hai của nhà Nguyên. Cuộc khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã kéo dài được một năm rưỡi. Buổi đầu, nghĩa quân khí thế ngùn ngụt, công thành chiếm đất, khởi nghĩa nở rộ khắp nơi.
Nhưng triều Nguyên đã kịp phản ứng, lập tức tung ra đòn phản công dữ dội. Như đã nói trước đó, Bố Vương Tam, người cầm đầu Hồng Cân quân ở miền Bắc, đã bị giết. Cánh quân miền Nam cũng sa vào khổ chiến.
Thảm nhất là Lý Nhị, người chiếm giữ Từ Châu, còn được gọi là Lý Mè.
Sở dĩ có cái tên ấy là vì năm mất mùa, ông từng đem cả kho vừng trong nhà ra cứu tế dân đói. Tiếng lành đồn xa, được dân chúng hết lòng ủng hộ.
Lý Mè hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông, nào ngờ triều đình lại phái trọng binh đến đánh mình trước, bỏ mặc Lưu Phúc Thông. Tệ hơn nữa, kẻ cầm quân lại là thừa tướng Thoát Thoát!
Lý Mè chống giữ hơn một tháng, cuối cùng vẫn để Thoát Thoát phá thành, chém đầu. Cả nhà ông cũng không ai sống sót.
Chỉ có Bành Đại, Triệu Quân Dụng và những người còn lại dẫn tàn quân chạy đến Hào Châu, nương nhờ Quách Tử Hưng.
Đến chết, Lý Mè vẫn chẳng hiểu chuyện gì xảy ra.
Ông không hiểu, nhưng người khác thì hiểu.
Thoát Thoát đường đường là thừa tướng, đem mấy chục vạn quân đánh Từ Châu, nguyên do rất đơn giản. Nơi này nằm ngay khúc hiểm yếu trên Đại Vận Hà. Miền Bắc tai họa liên miên, sông Hoàng Hà vỡ bờ, triều Nguyên chỉ còn trông vào lương thực từ phương Nam. Lý Mè dám chặn đường vận chuyển trên sông, triều đình sao có thể không liều mạng với ông?
Thoát Thoát thắng trận, hoàng đế ở Đại Đô vô cùng hài lòng. Không những phong thêm chức Thái sư cho Thoát Thoát, hoàng đế còn hạ chiếu dựng đền thờ sống ở Từ Châu để biểu dương công lao của y.
Nếu lúc ấy Thoát Thoát thừa thắng kéo quân xuống phía nam, Hào Châu gần như không có sức chống cự. Chỉ cần đánh một trận dứt điểm rồi tiếp tục tiến quân, ngay cả Từ Thọ Huy, vị hoàng đế nước Thiên Hoàn, cũng sẽ lâm vào cảnh nguy ngập.
Trớ trêu thay, hoàng đế nhà Nguyên ở Đại Đô dường như mắc phải cái bệnh của vua Thành Tổ nhà Kim, lập tức hạ chiếu triệu Thoát Thoát về kinh.
Khi ấy, hoàng đế nhà Nguyên chưa hiểu việc làm này sẽ dẫn đến chuyện gì. Chẳng bao lâu sau, ông ta sẽ lặp lại sai lầm ấy ở thành Cao Bưu. Hậu quả lần đó thì triều Nguyên không sao gánh nổi…
Thoát Thoát đã về Đại Đô, nhưng việc dẹp loạn vẫn tiếp tục.
Có người vây đánh Lưu Phúc Thông, có người giằng co với Từ Thọ Huy. Đánh nhau khắp nơi, chẳng ai chịu nhường ai.
Hồng Cân quân ở Hào Châu không quá hùng mạnh, nhưng triều Nguyên cũng phái đến hai viên đại thần, một người Hán, một người Mông Cổ, lần lượt là Giả Lỗ và Nguyệt Ca Sát Nhi.
Người đời thường cho rằng người Hán và người Mông Cổ vốn bất hòa, sẽ tranh đấu ngấm ngầm với nhau. Nhưng Giả Lỗ vốn giỏi trị thủy, lại có tiếng tăm và được lòng người, đến mức lấn át được cả Nguyệt Ca Sát Nhi.
Hai người bàn ra kế hoạch tiến quân khá thận trọng.
Trước hết, đại quân từ Từ Châu kéo xuống phía nam, đi qua Túc Châu, rầm rộ tiến thẳng đến Hào Châu.
Trên đường, Giả Lỗ chiêu hàng những kẻ làm loạn, thu nạp quân lính tan tác. Với đám cướp đường, thổ phỉ ở khắp nơi, ông đều dùng phép vỗ về: chỉ cần quay về quy thuận triều đình thì mọi chuyện cũ sẽ được bỏ qua.
Nhờ thế, dưới tay Giả Lỗ tập hợp được mấy vạn quân ô hợp, quân số tăng gần gấp đôi!
Binh lực gấp mười thì vây, gấp năm thì đánh. Giả Lỗ hiểu rõ nếu không có đủ quân, không thể hạ được Hào Châu.
Ngoài việc thu nạp sơn tặc thủy phỉ, Giả Lỗ còn nghiêm khắc quở trách Triệt Lý Bất Hoa, rồi ra lệnh cho y dẫn quân hưởng ứng, cùng vây đánh Hào Châu để lập công chuộc tội.
Triệt Lý Bất Hoa chính là kẻ từng được phái đến dẹp Quách Tử Hưng. Nhưng y nhát gan, không dám trực tiếp tấn công thành Hào Châu, lại thả quân đi cướp bóc dân lành, giết người vô tội rồi nhận vơ chiến công, lừa gạt triều đình.
Dẫu vậy, nói Triệt Lý Bất Hoa hoàn toàn chẳng có công lao thì cũng không phải. Quân của y tình cờ đốt cháy chùa Hoàng Giác, khiến Chu Trọng Bát mất chỗ nương thân cuối cùng, đành phải chạy đến Hào Châu, gia nhập hàng ngũ Hồng Cân quân.
Xét theo một nghĩa nào đó, Triệt Lý Bất Hoa cũng là kẻ giúp triều Nguyên tự đào mồ chôn mình.
- Theo tin mới nhất, Giả Lỗ có năm vạn quân, Nguyệt Ca Sát Nhi có một vạn kỵ binh Mông Cổ tinh nhuệ. Bọn chúng còn thu nạp thêm không dưới năm vạn người, cộng với ba vạn quân của Triệt Lý Bất Hoa, tổng số quân địch đã vượt quá mười vạn!
Mã thị nói đến đây, mặt trắng bệch, mí mắt giật liên hồi.
Ngay cả Trương Hy Mạnh cũng thấy tim đập dồn dập, cả người lạnh toát.
Người ta vẫn nói quân đông hơn một vạn thì trông ra vô tận. Hơn mười vạn quân kéo đến, đông như núi như biển, nào phải chuyện tầm thường!
Hơn nữa, Giả Lỗ không phải loại quan văn chỉ biết ngồi bàn giấy. Ông có thể điều động mười mấy vạn người, sắp xếp việc trị thủy đâu ra đấy, thì cũng có thể huy động ngần ấy quân đánh Hào Châu.
Tuy cầm quân và trị thủy không thể đánh đồng, nhưng cũng chớ xem nhẹ tài cán của Giả Lỗ.
Trương Hy Mạnh nghĩ đi nghĩ lại, vẫn thấy tim đập thình thịch, người nổi gai ốc.
- Phu nhân, hiện giờ ân công đang ở chỗ đại soái. Phu nhân có thể dẫn tiểu tử đi xem quanh thành một vòng, thử tìm cách ứng phó không?
Mã thị lập tức đồng ý. Nàng hiểu rõ bản lĩnh của Trương Hy Mạnh, cũng biết hắn hết lòng lo liệu cho nhà mình, chẳng phải người ngoài.
Mã thị chuẩn bị cho hắn một chiếc áo giáp, rồi đưa hắn lên thành Hào Châu.
Vừa đặt chân lên thành, Trương Hy Mạnh nhìn quanh trong ngoài, lập tức tê cả da đầu.
Không biết Quách Tử Hưng chiếm giữ Hào Châu hơn nửa năm qua rốt cuộc đã làm những gì.
Ai cũng biết thành lẻ loi rất khó giữ. Tốt nhất là chiếm thêm các thành trì xung quanh để hỗ trợ lẫn nhau. Dù không đánh chiếm được, ít ra cũng phải đắp vài lũy nhỏ ngoài thành, làm chỗ dựa cho nhau.
Đáng tiếc, hai việc ấy Quách Tử Hưng đều chẳng làm.
Đánh thành chiếm đất hay dựng lũy vốn không dễ, có lẽ còn có thể thông cảm. Nhưng tại sao ngay cả hào nước quanh thành cũng không vét?
Hào Châu gần sông Hoài. Từ khi Hoàng Hà vỡ bờ, cả vùng Giang Hoài đều thành nơi ngập lụt, sông ngòi bồi lấp, bùn cát chất đầy.
Hào nước quanh thành Hào Châu vốn sâu hơn một trượng, vậy mà giờ bùn cát bồi lên, có đoạn đã lấp bằng mặt đất.
Chưa hết, tường thành cũng chẳng được nâng cao hay gia cố. Bên ngoài không có tường chắn cho ngựa và người, quanh thành chẳng đào hào chống giặc. Cả thành như thể đã nằm yên chờ quân triều đình đến đánh. Trương Hy Mạnh ngây người, chẳng hiểu trong sử sách Hào Châu đã chống giữ bằng cách nào.
Rốt cuộc là Giả Lỗ quá kém cỏi, hay Chu Trọng Bát gặp vận may, được trời che chở?
Trương Hy Mạnh tê cả da đầu. Mã thị nhận ra nỗi lo của hắn, bèn thử hỏi:
- Tiểu tiên sinh đã nhìn ra chỗ bất ổn rồi ư?
Trương Hy Mạnh biết nói sao đây? Đâu chỉ là bất ổn, tình hình đã nguy cấp lắm rồi!
- Phu nhân, chẳng lẽ trước đây không ai đề nghị gia cố thành trì?
Mã thị đáp:
- Cũng có người nói rồi. Nhưng có người lại cho rằng gia cố thành trì quá nhọc sức. Triều Nguyên sai dân đi sửa sông, đổi tiền, khiến lòng người ly tán. Nghĩa quân không nên bắt dân phu làm việc nặng nhọc nữa.
Trương Hy Mạnh sửng sốt. Đó là lý lẽ gì vậy?
- Phu nhân, trong thành có mấy vạn binh lính, sai họ sửa thành cũng không được sao?
Mã thị khẽ thở dài, chỉ nói nhỏ:
- Trong thành vốn đã có năm vị đại soái, giờ lại thêm hai vị nữa… Dân thường vẫn bảo rồng nhiều thì không ai trị nổi nước.
Trương Hy Mạnh ngẩn người. Đùn đẩy trách nhiệm thì còn có thể hiểu, nhưng vì thế mà bỏ mặc thành lũy, ngồi chờ quan quân kéo đến, hắn thật không tài nào hiểu nổi.
Đây là chiến tranh đấy!
- Tiểu tiên sinh, theo cậu thì phải làm sao? Mã thị biết chuyện này liên quan đến tính mạng mọi người, liền sốt ruột nói: - Nếu có cách hay, cứ nói với ta. Ta sẽ đi tìm mẹ nuôi!
Mã thị đã nhắc đến mẹ nuôi không chỉ một lần. Xem ra Quách Tử Hưng cũng là người sợ vợ.
Trương Hy Mạnh chăm chú xem xét tình hình trong thành ngoài thành, suy tính hồi lâu rồi mới nói:
- Phu nhân, cần vét lại hào nước, dựng gấp một lớp tường đất cao chừng tám thước để chắn người và ngựa. Nhưng công trình làm vội thế này e rằng không cản nổi Giả Lỗ. Chỉ còn cách bày trận phòng thủ ngay trong thành.
- Trong thành ư?
- Phải!
Trương Hy Mạnh chỉ tay về phía trước.
- Phải dỡ những căn nhà sát tường thành, dọn trống một khoảng rộng ba mươi trượng. Trong quân Giả Lỗ hẳn không thiếu súng bắn đá của người Hồi Hồi và pháo ném lựu đạn. Chỉ một lớp tường thành thì không chống nổi. Hơn nữa, Giả Lỗ nhất định sẽ đào hầm ngầm vào thành. Phải đào hào sát mặt trong tường thành, rồi dựng thêm một bức tường thấp ở phía sau. Sau bức tường ấy lại đào hào, cứ thế bố trí lớp lang. Dẫu Giả Lỗ có bao nhiêu quân, chúng cũng sẽ phải bỏ mạng dưới thành Hào Châu!
Trương Hy Mạnh nghiến răng, một hơi nói ra hàng loạt cách giữ thành. Hắn đã không còn là kẻ đứng ngoài nhìn vào lịch sử, biết trước mọi chuyện. Giờ đây, hắn đang mang mối thù giết cha mẹ, tự mình sống giữa cuộc chiến này. Dù thế nào, hắn cũng phải đánh bại quân Nguyên!
Mã thị âm thầm suy tính, rồi gật đầu thật mạnh, ghi nhớ từng lời.
- Tiểu tiên sinh, ta hiểu rồi.