Lời lẽ của bà Peel quả thật vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, khiến người ta không thể xem thường.
Những người có mặt trong phòng xử đều không phải kẻ ngờ nghệch. Ai nấy đều nhìn ra chiếc ô che nắng được làm hết sức tinh xảo ấy hẳn phải đáng giá không ít.
Nhưng nếu thật sự mời George Morris đến tận tòa làm chứng, thì dù có đánh chết, hắn cũng chẳng đời nào chịu thừa nhận chiếc ô ấy quý giá đến mức nào.
Là một nghị viên trẻ vừa chật vật vượt qua cuộc tranh cử khốc liệt, George Morris mà vừa đắc cử đã bị kéo vào bê bối mua phiếu, con đường chính trị đang rộng mở của hắn ắt sẽ rơi thẳng xuống vực.
Ai cũng biết thời buổi này chuyện mua phiếu chẳng có gì mới mẻ. Nhưng dù là đảng Whig hay đảng Tory, hai phe đều ngầm hiểu với nhau rằng chuyện ấy phải được tiến hành trong bóng tối. Đụng đến hành vi mua phiếu của đối thủ, họ cũng ăn ý làm ngơ.
Kẻ nào ngu xuẩn đến mức vạch trần chuyện đó, dám làm điều thiên hạ đều kiêng dè, thì mặc cho lai lịch ra sao, người của hai phe cũng sẽ bắt tay nhau dẹp yên.
George Morris còn trẻ, tư cách quá nông, hiển nhiên chưa có gan đối đầu với các ông lớn của hai đảng cùng đám nghị viên lão luyện. Hắn cũng chưa chuẩn bị tinh thần nhảy ra phá nồi cơm của tất cả mọi người.
Vị thẩm phán trị an đương nhiên hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện.
Ông thậm chí chẳng buồn triệu George Morris đến tòa làm chứng, bởi biết chắc gã ấy sẽ không nói thật.
Dồn Morris đến đường cùng, biết đâu gã còn cắn răng khẳng định chiếc ô ấy chẳng đáng một xu.
Dù Morris có bịa rằng cả trăm chiếc ô đều do hắn bỗng nhiên ngộ ra bí quyết làm ô trong nhà, rồi thức trắng một đêm làm xong để thử tay nghề, vị thẩm phán cũng chẳng thấy lạ.
Ông đã làm thẩm phán hơn hai mươi năm. Những chuyện như thế, ông chứng kiến quá nhiều rồi.
Vị thẩm phán giả vờ trầm ngâm, nói:
- Thưa bà Peel, xét đến danh tiếng tốt đẹp của bà, tôi tin vào phán đoán của bà. Nhưng nếu chiếc ô che nắng này chỉ là một món đồ lưu niệm chẳng mấy quan trọng…
Ông còn chưa nói hết câu, các bồi thẩm viên bên dưới đã nhao nhao phụ họa.
- Mà lại còn tầm thường nữa chứ.
- Chẳng đáng bao nhiêu tiền đâu.
- Đem làm đồ chơi cho con trai tôi, tôi còn chê tay nghề thô kệch.
- Thưa ngài thẩm phán, ngài nghĩ trộm một món đồ chơi thì nên phạt bao lâu?
Vị thẩm phán bất đắc dĩ mỉm cười:
- Tôi nghĩ mười ngày là vừa.
Các bồi thẩm viên nghe vậy cũng phá lên cười.
- Chính miệng ngài nói đấy nhé.
- Vậy chúng ta có thể tuyên án được rồi.
- Đúng thế. Chúng tôi cho rằng cậu bé Adam có tội, tội trộm đồ chơi.
Bà Peel ngoái nhìn đám bồi thẩm viên đang cười nói rôm rả phía sau, rồi cũng mỉm cười:
- Thưa ngài thẩm phán, xem ra chúng ta không cần phải lui ra ngoài bàn bạc nữa. Các bồi thẩm viên đều nhất trí cho rằng Adam Evans có tội. Ngài có thể tuyên án rồi.
Vị thẩm phán cũng vui vẻ được nhẹ việc. Hôm nay ông còn phải xét xử rất nhiều vụ, không cần tiếp tục phí thời gian vì cậu bé Adam.
Cộp!
Chiếc búa xử án nện xuống.
Vị thẩm phán trịnh trọng tuyên bố:
- Theo phán quyết của bồi thẩm đoàn, bị cáo Adam Evans phạm tội. Nay, nhân danh Tòa trị an địa phương London, căn cứ các điều luật liên quan, tôi tuyên phạt bị cáo Adam Evans mười ngày tù giam và một silinh tiền phạt.
- Hoan hô!
Các bồi thẩm viên đồng loạt reo lên.
Cậu bé Adam rưng rưng nước mắt, cứ cúi đầu cảm ơn vị thẩm phán:
- Cảm ơn ngài, cảm ơn ngài, thưa ngài thẩm phán.
Vừa sắp xếp hồ sơ trên bàn, vị thẩm phán vừa cười nói với cậu:
- Cậu nên cảm ơn viên cảnh sát Arthur mới phải.
- Vâng, cháu sẽ làm vậy.
Adam quay sang nhìn Arthur, cúi gập người thật sâu:
- Thưa ngài cảnh sát, ngài đã cứu mạng cháu.
Arthur mỉm cười, không nói gì. Hắn bước tới vỗ vai cậu bé, rồi móc từ túi ra một silinh, đi về phía vị thẩm phán.
- Thưa ngài thẩm phán, đây là tiền phạt của cậu bé. Để tôi nộp thay.
Vị thẩm phán nhướng cặp lông mày bạc rậm rạp, giễu hắn:
- Chuyện này mà cậu cũng muốn tranh với tôi sao? Không có cửa đâu. Giúp Adam nộp một silinh còn đáng giá hơn mười lần tôi đến nhà thờ quỳ lễ. Việc tốt thế này không thể nhường cho cậu được. Cầm về đi.
Arthur cũng đùa lại:
- Vậy sau này khi lên thiên đường, ngài nhớ chừa cho tôi một chỗ bên cạnh nhé.
Vị thẩm phán ôm xấp hồ sơ đứng dậy, cười nói:
- Không cần đâu, Arthur. Đến lúc ấy, chỗ của cậu nhất định còn gần Chúa hơn cả tôi. Tôi còn phải nhờ cậu nói giúp vài câu trước mặt Người nữa kia.
- Trong phạm vi pháp luật cho phép chứ?
- Đương nhiên rồi. Tôi là thẩm phán mà.
Hai người nhìn nhau bật cười. Arthur xoay người, lên tiếng cáo biệt:
- Hẹn gặp lại, thưa ngài thẩm phán.
Giọng vị thẩm phán vang lên sau lưng hắn:
- Sau này tôi còn gặp lại cậu ở đây không?
Arthur khựng bước:
- Có lẽ là không đâu.
Vị thẩm phán im lặng một lúc, rồi nói:
- Arthur, nghe tôi khuyên một câu. Hãy tiếp tục làm đi, bằng không sau này cậu sẽ hối hận. Cậu sinh ra là để làm nghề này. Tôi chưa từng gặp ai thích hợp với công việc ấy hơn cậu. Tôi ghét tất cả cảnh sát của Scotland Yard, nhưng cậu là ngoại lệ. Có cậu ở đó, mọi chuyện rồi sẽ tốt lên.
Trước lời níu kéo của vị thẩm phán, Arthur không đáp. Hắn chỉ vắt bộ đồng phục cảnh sát lên vai, một tay đút vào túi quần, tay kia khẽ vẫy đối phương.
Rồi hắn lặng lẽ bước khỏi phòng xử, cứ như chưa từng đặt chân đến đây.
Vị thẩm phán nhìn theo bóng lưng xa dần, nặng nề thở dài.
- Người trẻ thời nay thật là…
Thư ký tòa ngồi phía dưới ông ngoái nhìn vị thẩm phán già, rồi lại nhìn Arthur đã ra khỏi phòng xử. Hắn cầm cây bút trong tay, cố nhịn hồi lâu, cuối cùng vẫn không chịu nổi mà đứng dậy chạy theo.
- Ngài cảnh sát Arthur, khoan đã!
Nhìn cảnh ấy, vị thẩm phán lại bật cười, buông một tiếng thở dài.
- Người trẻ thời nay thật là…
Arthur bước ra khỏi tòa. Trước mắt hắn là phố xá ngựa xe tấp nập, trên đầu là bầu trời trong xanh.
Gió lướt qua ngọn cây, cuốn bụi đất bay lên, làm mắt hắn cay xè.
Arthur đưa tay che ngang trán, ngẩng nhìn nền trời xanh biếc rồi lẩm bẩm:
- Hiếm khi mới có ngày đẹp trời thế này, chỉ tiếc nắng gắt quá.
Ngoài con phố trước cửa tòa án đậu một cỗ xe ngựa sang trọng màu đen. Một quý ông trung niên đội mũ chóp đen, đeo kính một mắt gọng vàng, đang đứng chờ ở đó.
Thấy Arthur bước ra, ông ta mỉm cười tiến đến.
- Xin chào, ngài cảnh sát Arthur.
Arthur chăm chú quan sát gương mặt người kia, ngờ vực hỏi:
- Tôi quen ông sao?
Người đàn ông mỉm cười:
- Ngài không biết tôi, nhưng tôi lại biết ngài. Bài diễn thuyết vừa rồi thật đặc sắc, phải không? Tôi vốn chỉ đến đây giết thời gian, vậy mà dù ngồi ở hàng ghế dành cho người dự khán, tôi vẫn bị những lời nói đầy sức lay động của ngài cuốn hút.
- Cảm ơn ông đã ủng hộ công việc của tôi.
- Nói thật, ngài chính là hình mẫu viên cảnh sát hoàn hảo nhất trong lòng tôi. Bình tĩnh, điềm đạm, sáng suốt, tự tin, chính trực, cầu tiến mà vẫn biết giữ chừng mực. Từng lời nói, cử chỉ của ngài đều đáng làm gương. Ngài là niềm kiêu hãnh của cả Scotland Yard.
Arthur gượng cười. Hôm nay đã là người thứ hai khen hắn như vậy.
- Tôi không biết mình có xứng với những lời ca ngợi ấy hay không, nhưng chuyện đó giờ chẳng còn quan trọng nữa. Từ ngày mai, tôi sẽ không còn là cảnh sát của Scotland Yard.
Quý ông trung niên hỏi:
- Ngài thật sự không định tiếp tục làm việc ở Scotland Yard sao?
Arthur gật đầu. Hắn định nói gì đó, nhưng chợt thấy trong miệng cứ vướng víu thế nào.
Tay hắn lần mò trong túi quần một hồi, bỗng chạm phải chiếc tẩu thuốc Elder tặng sáng nay. Bên trong vẫn còn thuốc. Buổi sáng hắn mới rít được hai hơi thì dập đi, giờ lấy ra dùng cũng vừa lúc.
Thấy Arthur lấy tẩu thuốc, quý ông trung niên rất tự nhiên rút hộp diêm trong túi, châm lửa giúp hắn.
Arthur hít một hơi thật sâu. Nào ngờ khói thuốc xộc vào khiến hắn sặc đến chảy nước mắt.
Dù vậy, hắn vẫn cố nén khó chịu, lên tiếng cảm ơn:
- Cảm ơn ông đã giúp, thưa ông.
Quý ông trung niên mỉm cười:
- Hóa ra ngài không biết hút thuốc.
Arthur rít thêm hai hơi, nhăn mặt đáp:
- Sáng nay tôi mới học hút. Trước kia trong đội có quy định, không cho hút thuốc ở nơi công cộng, nên tôi chưa từng đụng vào thứ này.
- Vậy ngài học hút thuốc làm gì?
Arthur ngậm tẩu thuốc, hút thế nào cũng thấy chẳng hợp miệng.
Khói thuốc vừa đắng vừa khé, mùi khói do thuốc cháy cũng xộc lên cay mũi, khiến khắp người hắn khó chịu.
- Sau khi nghỉ việc, tôi sẽ ra biển. Tôi nghe nói muốn hòa nhập với các thủy thủ thì phải biết hút thuốc, uống rượu đôi chút. Không biết những thứ ấy, lên tàu sẽ sống rất khổ sở.
- Ngài đã tìm được tàu rồi sao?
- Đúng vậy. Tàu Beagle của Hải quân Hoàng gia. Họ đang chuẩn bị thực hiện một chuyến khảo sát khoa học vòng quanh thế giới, nhưng còn thiếu một nhà tự nhiên học.
Ánh mắt quý ông trung niên thoáng vẻ tiếc nuối:
- Mất đi một viên cảnh sát xuất sắc như ngài, tôi thật sự rất buồn. Đó là tổn thất của Scotland Yard, cũng là tổn thất của người dân London. Nhưng tôi tôn trọng lựa chọn của ngài.
- Cảm ơn sự tôn trọng của ông. Vậy hẹn ngày gặp lại, thưa ông. Cũng cảm ơn ông về hộp diêm.
Nói rồi, Arthur nhấc chân rời khỏi đó.
Hắn đi chưa được bao xa thì đã thấy hai viên cảnh sát Tom và Tony lăn lộn chạy từ trong tòa ra.
Hai người vừa đuổi theo hướng Arthur rời đi, vừa gào lên:
- Arthur, cậu nhất định đừng hành động thiếu suy nghĩ! Chúng ta không thể mất cậu được! Hu hu, tôi đúng là đồ vô dụng. Những chuyện này vốn đâu nên để cậu gánh chịu!
- Sau này con trai tôi nhất định phải học Đại học London! Dù Oxford với Cambridge có miễn học phí cho nó, tôi cũng phải bắt nó cút đến Đại học London học!
Quý ông trung niên nhìn cảnh ấy, chỉ thấy dở khóc dở cười.
Ông đang thích thú xem cuộc đua đường dài giữa hai viên cảnh sát Tom và Tony thì bỗng có người lên tiếng làm gián đoạn.
- Thưa ông, vừa rồi ông có nhìn thấy một người mặc áo sơ mi trắng, khoác bộ đồng phục cảnh sát trên vai đi ra từ đây không?
Quý ông trung niên quay đầu lại. Người hỏi là viên thư ký tòa còn trẻ.
- Cậu nói viên cảnh sát Arthur à? Cậu tìm hắn có việc gì?
- Đúng vậy. Ông quen viên cảnh sát Arthur sao?
Viên thư ký tòa mừng rỡ hỏi:
- Thế thì tốt quá! Tôi tuy là thư ký tòa, nhưng đồng thời cũng viết bài cộng tác cho một tòa soạn. Bài diễn thuyết của viên cảnh sát Arthur hôm nay thật sự khiến người ta phấn chấn, nên tôi muốn đăng nội dung ấy lên báo của chúng tôi. Không biết ông có thể giúp tôi chuyển lời thỉnh cầu này đến ngài ấy không?
Nghe vậy, quý ông trung niên vuốt cằm suy nghĩ một hồi rồi mỉm cười đáp:
- Tôi sẽ chuyển lời giúp cậu. Tôi nghĩ ngài ấy sẽ không từ chối đâu. Cho phép tôi mạo muội hỏi một câu, cậu viết bài cho tờ báo nào vậy?
Viên thư ký tòa ngượng ngùng đáp:
- À… không phải tờ báo lớn gì đâu. Chỉ là một tờ báo có lượng phát hành rất nhỏ, tên là Nhật báo Quan Sát. Ông hỏi vậy để làm gì?
Quý ông trung niên mỉm cười:
- Không có gì. Chỉ là tôi tình cờ quen vài biên tập viên của báo Times. Gần đây họ đang đau đầu vì thiếu bài viết.
- Nếu cậu không ngại, sau khi viết xong, cậu có thể cho họ đăng lại được không? Tôi tin họ sẽ không tiếc tiền nhuận bút đâu.
- Coi như giúp tôi một việc, cũng là giúp họ một tay. Cậu thấy thế nào?