Tiếng búa lại vang lên giữa tràng pháo tay không dứt.
Vị thẩm phán tòa trị an mỉm cười, tuyên bố:
- Sau khi nghe bài diễn thuyết đầy nhiệt huyết của viên cảnh sát Arthur, hẳn mọi người đã hiểu rõ vụ án hơn, lòng cũng càng thêm vững tin vào nhận định của mình. Giờ tôi tuyên bố phiên nghỉ đã kết thúc. Xin các ông bà trở về chỗ ngồi, phiên tòa sẽ tiếp tục.
Phòng xử án đang rộn ràng bỗng lặng đi. Vị thẩm phán nhìn Arthur, cười hỏi:
- Ngài còn điều gì cần nói thêm không?
Arthur lại mang vẻ mặt sắt đá, công tâm như trước. Hắn đáp:
- Yêu cầu của Sở Cảnh sát Đại Luân Đôn đã được trình bày đầy đủ trong bản cáo trạng, những chứng cứ liên quan cũng đã nộp lên tòa. Tôi không còn gì cần nói thêm.
Vị thẩm phán gật đầu, rồi quay sang bồi thẩm đoàn:
- Phiên xử cũng sắp đến hồi kết. Xin các ông bà trong bồi thẩm đoàn ra phòng ngoài nghị án. Sau khi bàn bạc xong, các vị phải đưa ra phán quyết bị cáo có tội hay vô tội.
“Nếu các vị tuyên bị cáo có tội, tôi sẽ căn cứ vào thái độ của hắn tại phiên tòa, cân nhắc phép tắc xã hội và lẽ công bằng để định mức hình phạt thích đáng, rồi đưa ra phán quyết cuối cùng.”
Nói đến đây, ông ngừng lại. Ông cầm cuốn Kinh Thánh đặt trước mặt lên, áp vào ngực, rồi trịnh trọng tuyên bố với các bồi thẩm viên:
- Thưa các ông bà, tôi xin lấy danh dự và đức tin của mình thề trước Chúa rằng, tôi nhất định sẽ đưa ra một phán quyết công bằng, không trái với lương tâm. Xin hãy tin lời tôi.
Các bồi thẩm viên đều hiểu điều ông ngầm muốn nói.
Bài diễn thuyết vừa rồi của Arthur đã lay động ông, nhưng tội của cậu bé Adam cũng là sự thật. Ông mong họ đừng vì cảm tình riêng mà gạt bỏ luật pháp, tuyên bị cáo vô tội.
Mặt khác, ông cũng cam đoan rằng cho dù cậu bé Adam bị kết tội, tòa trị an nhất định sẽ xét giảm nhẹ hình phạt. Đứa trẻ mới chín tuổi ấy chắc chắn không phải lên đoạn đầu đài.
Nghe vậy, các bồi thẩm viên vẫn còn do dự. Họ đứng cả lên nhưng chần chừ mãi, chưa bước ra ngoài.
Họ biết Adam sẽ được xử nhẹ, nhưng lại không biết nhẹ đến mức nào.
Thời ấy, luật pháp là một môn học đắt đỏ, chỉ luật sư và thẩm phán mới thông thạo. Các bồi thẩm viên hiển nhiên chẳng có đủ kiến thức ấy.
Thấy tình thế cứ giằng co cũng không ổn, phu nhân Pearce bèn nhẹ nhàng lên tiếng:
- Thưa ngài thẩm phán, tôi có thể hỏi ngài một chuyện liên quan đến pháp luật không?
Vị thẩm phán mỉm cười gật đầu:
- Tất nhiên. Giải đáp thắc mắc cho bồi thẩm viên là bổn phận của tôi.
Phu nhân Pearce ngẫm nghĩ hồi lâu, mới tìm được cách hỏi sao cho thẩm phán không lâm vào thế khó:
- Vậy xin hỏi ngài, nếu một người ăn trộm món đồ trị giá hơn năm silinh, nhưng trong phiên tòa tỏ rõ ý muốn hối cải, lòng đầy ăn năn, lại còn là trẻ vị thành niên, thì tòa sẽ xử thế nào?
- Câu hỏi rất hay!
Vị thẩm phán nghiêm trang đáp:
- Khi nghe viên cảnh sát Arthur diễn thuyết ban nãy, hẳn bà đã để ý đến một nhân vật quan trọng, đó là ngài Samuel Romilly. Có thể các ông bà ở đây chưa quen tên ông, nhưng ông là một bậc thầy trong giới luật pháp, cũng là học giả uyên bác mà tôi hết sức kính trọng.
“Năm 1808, ông từng đề xuất một dự luật cải cách hình luật. Dự luật ấy không được nghị viện hoàn toàn ủng hộ, nhưng một số điều khoản vẫn được thông qua và đem ra thi hành. Trong đó có một quy định miễn giảm riêng dành cho trẻ vị thành niên phạm tội. Tôi xin giải thích rõ hơn.
“Trẻ vị thành niên chưa đủ khả năng phán đoán như người trưởng thành. Vì vậy, nếu trẻ phạm tội nhẹ, có thể dùng những hình phạt khác thay cho việc bỏ tù, chẳng hạn để người Digan ở bên giám sát suốt một tháng, đánh roi hoặc gông cùm.
“Còn với trẻ từ bảy đến mười bốn tuổi phạm trọng tội không dùng bạo lực, nhưng thật lòng ăn năn, tòa có thể cân nhắc không xử tử hình, mà đổi sang đày đi nơi khác hoặc một hình phạt nhẹ hơn nữa.
“Dẫu vậy, theo ý riêng của tôi, nếu sức khỏe phạm nhân không tốt, hoặc tuổi còn quá nhỏ nên không thể chịu cảnh lưu đày, tôi cũng sẽ không áp dụng hình phạt ấy.
“Ví dụ như trường hợp một đứa trẻ phạm tội ăn trộm. Nếu số tiền liên quan hơn mười silinh, phạt tám năm tù. Nếu từ năm đến mười silinh, phạt năm năm tù.”
Một phụ nữ mập trong bồi thẩm đoàn, người tự nhận mình là mẹ của ba đứa trẻ, hỏi:
- Vậy nếu ăn trộm bảy silinh sáu penni thì sao?
Vị thẩm phán nghe xong, chần chừ hồi lâu mới đáp:
- Thưa bà, bà hỏi thế thì làm khó tôi quá. Bảy silinh sáu penni, vậy phạt bốn năm tù.
- Bốn năm tù ư?
Các bồi thẩm viên nghe vậy, ai nấy lại do dự. Họ vẫn thấy hình phạt ấy quá nặng.
Đúng lúc đó, phu nhân Pearce lên tiếng. Bà rút bên mình ra một chiếc ô che nắng trắng muốt, viền ren, đặt lên bàn.
- Thưa ngài thẩm phán, ngài có thể đối chiếu chiếc ô của tôi với vật chứng ngài đang giữ không? Tôi nghi chúng có thể cùng xuất phát từ một nơi.
- Ồ?
Vị thẩm phán vội đeo kính:
- Xin bà đưa chiếc ô lên đây.
Viên cảnh sát tòa án lập tức đặt chiếc ô vật chứng và chiếc ô của phu nhân Pearce trước mặt thẩm phán.
Sau khi so sánh kỹ, ông kinh ngạc kêu lên:
- Trời đất! Hai chiếc ô này giống hệt nhau. Viên cảnh sát Arthur, chẳng phải trong cáo trạng nói mẫu ô này chỉ được sản xuất một đợt thôi sao? Chẳng lẽ bà Nancy đã làm chứng gian với các anh?
Arthur cũng không hiểu rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra. Hắn cau mày suy nghĩ, nhưng còn chưa kịp thông suốt, phu nhân Pearce đã lên tiếng:
- Thưa ngài thẩm phán, bà Nancy hẳn không làm chứng gian. Mẫu ô này quả thật chỉ được sản xuất một đợt.
“Chiếc ô này do ông George Morris, người vừa đắc cử nghị sĩ Hạ viện, đặt riêng tại nhà máy để tặng những người ủng hộ mình. Vừa nhìn thấy vật chứng, tôi đã thấy quen mắt. Sau đó nghĩ kỹ lại, tôi mới nhớ hôm xảy ra vụ án, ngày hai mươi lăm tháng Ba, hình như tôi đã cùng bà Nancy dự chung một buổi mít tinh tranh cử.
“Người tổ chức buổi diễn thuyết ấy chính là nghị sĩ George Morris. Hôm đó, ông đã phát một trăm chiếc ô kiểu này cho các quý bà có mặt. Ông còn nhiều lần nhấn mạnh rằng đó chỉ là món quà nhỏ tầm thường để tỏ lòng cảm ơn, chẳng đáng bao nhiêu tiền, chứ không phải dùng quà cáp để mua chuộc công chúng.
“Cũng vì ông Morris cam đoan như thế, tôi mới nhận chiếc ô này. Nếu ông ấy bảo chiếc ô trị giá bảy silinh sáu penni, dù thế nào tôi cũng không nhận. Làm vậy chẳng khác nào bôi nhọ danh tiếng trong sạch của ông ấy.
“Nếu ngài không tin, tôi có thể viết thư cho ông Morris ngay bây giờ. Tôi tin ông ấy sẽ rất sẵn lòng đến tòa giải thích rõ chuyện này.”