Đến núi Lân Chỉ, Vương Đạo Viễn không chậm trễ, liền độn thổ thẳng tới động phủ Linh Tuyền.
Vào động phủ Linh Tuyền, hắn cởi túi linh thú bên hông, đổ hết cành nhánh của ba gốc tùng Ngọc Cốt ra ngoài.
Triệu Lương trông thấy ngần ấy tùng Ngọc Cốt, mắt trợn tròn, hưng phấn nói:
-Đây là tùng Ngọc Cốt sao? Thần Binh các luyện phi chu nhị giai mà còn không nỡ dùng tùng Ngọc Cốt nhị giai thượng phẩm làm long cốt. Chỉ khi luyện phi thuyền chiến cỡ lớn, người ta mới chịu dùng đến. Chỉ tiếc những thân cây này đều bị chặt đứt, thật quá đáng tiếc. Nếu không, dùng để luyện phi thuyền chiến dài hơn hai mươi trượng cũng đủ rồi.
Vương Đạo Viễn cười nói:
-Phi thuyền chiến thì đừng mơ tới. Chúng ta mà luyện ra cả chiếc hoàn chỉnh, U Minh tông nhất định sẽ thu lấy. Ngươi cũng đừng tiếc mấy cây tùng này làm gì. Ta ở Trụy Long lĩnh đã tìm thấy một rừng tùng Ngọc Cốt. Loại nhị giai trung phẩm, miễn cưỡng dùng làm long cốt phi chu được, e có đến mấy chục gốc. Loại nhị giai thượng phẩm thì có hơn mười gốc, còn một gốc nữa chẳng bao lâu sẽ thành tam giai linh mộc. Đợi khi thuật luyện khí của ngươi đạt tới nhị giai thượng phẩm, có thể luyện trọn một chiếc phi chu, cả rừng tùng cứ việc ngươi dùng.
-Thật sao? Vậy ta phải mau chóng trở thành luyện khí sư nhị giai thượng phẩm mới được. Triệu Lương mừng rỡ hỏi lại.
Vương Đạo Viễn chỉ mấy đoạn thân tùng, nói:
-Xem mấy khúc thân cây này có dùng được không. Không được thì ta lại đi đốn thêm vài cây.
Triệu Lương vội đáp:
-Chỗ ngươi có hơn mười khúc thân cây, mỗi khúc đều có thể làm một cái long cốt. Nếu chúng ta tự luyện được hạch tâm phi chu, đủ để luyện mười mấy chiếc phi chu. Luyện long cốt chỉ cần lấy tâm cây trắng như ngọc ra là được, phần vỏ ngoài thân cây tốt nhất xẻ thành ván gỗ dày ba tấc. Ta sẽ dùng những tấm ván này làm vỏ bảo vệ các bộ phận hạch tâm, để khỏi bị đánh trúng là hạch tâm vỡ tan như phi chu Trục Lãng. Gỗ tùng Ngọc Cốt cực kỳ cứng, tu sĩ Trúc Cơ hậu kỳ thông thường cũng chẳng có cách nào. Công cụ trong tay ta không đủ sức xử lý mấy thân cây này. Cho nên việc gia công, vẫn phải nhờ ngươi ra tay.
Vương Đạo Viễn cười:
-Vậy cũng được, việc nhỏ này chưa làm khó nổi ta.
Nói rồi, hắn thi triển Trảm Thiên kiếm, ngưng trong tay một đạo hư ảnh cự kiếm dài hơn hai mươi trượng. Sau đó, hắn từ từ thu hư ảnh lại cho đến khi chỉ còn dài hơn năm trượng, vừa vặn dài hơn một khúc thân cây một chút. Hắn cẩn thận điều khiển hư ảnh cự kiếm, từng lớp từng lớp cắt ván gỗ khỏi thân cây.
Chỉ cắt ván, không đụng đến tâm cây, linh lực hao tốn ít hơn nhiều. Cắt được hơn mười tấm ván, linh lực trong hư ảnh cự kiếm mới cạn. Mất bốn năm ngày, hắn mới xử lý xong toàn bộ ván gỗ.
Tổng cộng được gần ba trăm tấm ván dài năm trượng, bề rộng đủ dùng. Số tấm thích hợp làm boong phi chu có hơn trăm tấm, khiến Triệu Lương nhìn mà muốn dùng luôn đám ván này làm vỏ phi chu. Nhưng hắn cũng biết chuyện đó không thực tế. Nếu dùng tùng Ngọc Cốt luyện trọn một chiếc phi chu, e phải đốn cả chục cây. Hơn nữa, gia công ván cũng tốn rất nhiều thời gian. Lẽ nào lại để Vương Đạo Viễn, chiến lực mạnh nhất nhà họ Vương dưới cảnh Tử Phủ, suốt ngày cắt ván gỗ?
Ván gỗ xong xuôi, Triệu Lương chọn một tâm tùng Ngọc Cốt, đưa cho Vương Đạo Viễn, nói:
-Vậy thì dùng cái này luyện long cốt. Trận pháp Đại Tiểu Như Ý, giao cho ngươi. Khoét lỗ mộng trên long cốt, ta cũng làm được, nhưng chậm lắm. Nếu ngươi đang gấp rút cần phi chu, có thể tự tay làm, tiết kiệm được gần nửa năm.
Vương Đạo Viễn đương nhiên mong nhanh hơn một chút. Tâm cây trắng như ngọc này tuy cứng, nhưng còn tùy xem ai gia công.
Triệu Lương đánh dấu xong vị trí các lỗ mộng, hắn liền thi triển Kim Bằng bác long thuật, dùng vũ nhận khoét lỗ mộng. Màn thao tác này khiến Triệu Lương giật mí mắt liên hồi. Dùng Trảm Thiên kiếm bào ván, dùng Kim Bằng bác long thuật đục mộng, ai từng thấy cảnh tượng như thế? Nếu Kim Bằng chân quân trông thấy, e rằng cũng tức đến bật dậy khỏi quan tài. Còn Quy Nguyên kiếm tông, bọn chúng từ lâu đã chẳng biết xấu hổ là gì, nên cũng chẳng để tâm chuyện này.
Mất nửa tháng, Vương Đạo Viễn xử lý xong long cốt, các lỗ mộng đều đã khoét xong, trận pháp Đại Tiểu Như Ý cũng đã khắc xong. Về sau phi chu muốn lớn muốn nhỏ đều nhờ trận pháp này. Phần việc còn lại, Vương Đạo Viễn cũng không giúp được gì.
Sau khi nhận được lời hứa của Triệu Lương rằng trong vòng một năm sẽ luyện thành phi chu, hắn rời động phủ Linh Tuyền, trở lại núi Lân Chỉ.
Một năm nữa là có phi chu, bên Trụy Long lĩnh cũng phải gắng thêm. Phải cố có được một vùng đất vững chắc trước khi phi chu luyện xong, để đưa người trong tộc bình thường đến đó.
Trụy Long lĩnh dài hơn nghìn dặm, muốn nuốt trọn cả dãy núi thì không thể nào, gia tộc cũng chẳng rút đủ người để quản lý. Tốt hơn hết là chiếm trước một khoảnh đất ở đầu tây Trụy Long lĩnh, rồi từng bước mở rộng.
Sau khi lộ diện ở núi Lân Chỉ, hắn lại vội vã đến Trụy Long lĩnh, dọn dẹp yêu thú. Muốn chiếm một vùng đất vững vàng ở Trụy Long lĩnh, nơi thích hợp nhất chính là rừng tùng Ngọc Cốt ở tận cực tây.
Hắn tiếp tục dùng ong Truy Hồn dụ nhện sói khát máu, rồi tiêu diệt chúng, quét sạch cả rừng tùng. Mất hơn mười ngày, hao tổn hơn hai trăm con ong Truy Hồn, hắn mới quét qua cả rừng một lượt, tiêu diệt hơn ba mươi con nhện sói khát máu.
Trụy Long lĩnh trải dài hơn nghìn dặm, một đường linh mạch xuyên suốt cả dãy núi. Có điều, cả dãy núi cũng chẳng liền một mạch. Giữa các đỉnh núi xen lẫn những hẻm sâu vách đứt, cùng gò đồi và đất bằng.
Rừng tùng Ngọc Cốt nằm trên một đoạn tiểu sơn mạch, đông tây dài khoảng trăm dặm, nam bắc rộng hai mươi đến ba mươi dặm. Linh thực nhiều nhất trên núi chính là tùng Ngọc Cốt. Tiểu sơn mạch này tuy cũng thuộc Trụy Long lĩnh, nhưng phía đông có một thung lũng rộng vài dặm, ngăn nó với phần còn lại của Trụy Long lĩnh. Vốn dĩ nó không có tên riêng, đều được gọi chung là Trụy Long lĩnh.
Vương Đạo Viễn đặt tên cho nó là núi Ngọc Tùng. Trên núi ngoài nhện sói khát máu ra, không còn yêu thú nhị giai nào khác. Tuy đã dọn sạch mấy chục con nhện sói khát máu, cũng không còn chuyện ong Truy Hồn bị tiêu diệt nữa, nhưng Vương Đạo Viễn vẫn không dám lơ là. Loài linh trùng to bằng hạt gạo, nếu cố tình ẩn náu, hắn thật khó mà tìm ra.
Trên Trụy Long lĩnh, các yêu thú nhị giai thượng phẩm đều có địa bàn riêng, chẳng dễ dàng vượt ranh. Chỉ cần không gây động tĩnh quá lớn, cũng chẳng cần lo yêu thú khác tìm đến gây sự. Yêu thú phía đông núi Ngọc Tùng đều là loại nhị giai trung phẩm hoặc hạ phẩm, có kéo đến cũng chỉ đi chịu chết.
Để lập được căn cơ vững chắc trên núi Ngọc Tùng, việc tiếp theo là phải nhanh chóng bố trí trận pháp phòng ngự. Linh mạch Trụy Long lĩnh không mang thuộc tính, bố trí trận pháp thuộc tính nào cũng được. Dĩ nhiên, trận pháp ngũ hành là tốt nhất, có thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của linh mạch vô thuộc tính.
Hơn nữa, trận pháp ngũ hành còn một lợi thế khác. Đó là tu sĩ mang bất kỳ thuộc tính ngũ hành nào đều có thể vận dụng trận pháp. Khi chọn tu sĩ trấn giữ cũng dễ dàng hơn, ai đến cũng được.
Truyền thừa trận pháp của Vương Đạo Viễn đến từ Ngũ Hành chân nhân. Ngũ Hành chân nhân vốn là tu sĩ ngũ linh căn, loại trận pháp ông nghiên cứu nhiều nhất, tự nhiên là hợp với bản thân ông nhất. Bởi vậy, trong truyền thừa của ông, trận pháp ngũ hành là nhiều nhất.
Có điều, muốn chọn trận pháp hợp với núi Ngọc Tùng thì thật không dễ. Ngọn núi này dài trăm dặm, rộng hai ba chục dặm. Phần lớn trận pháp ngũ hành đều đặt các trận nhãn ngũ hành phân bố đều nhau. Muốn bao trùm cả ngọn núi, thì phải có hai trận nhãn đặt ở hai đầu đông và tây núi Ngọc Tùng. Như vậy, hai trận nhãn nam bắc cũng phải cách nhau trăm dặm, chỉ có thể đặt ra ngoài núi Ngọc Tùng.
Trận nhãn cách xa linh mạch mà muốn mượn linh khí trong linh mạch thì vô cùng khó nhọc. Trận nhãn phải đặt ngoài núi mấy chục dặm, vật liệu nối thông với linh mạch thì cũng phải xếp kéo dài mấy chục dặm. Chưa nói đến tốn kém linh tài, xác suất trục trặc tăng vọt, trên đường linh khí truyền dẫn, tất nhiên cũng hao hụt. Linh khí truyền đi mấy chục dặm, ắt khiến linh lực các trận nhãn ngũ hành mất cân bằng nghiêm trọng, trận pháp hoàn toàn không thể vận hành bình thường.
Tìm kiếm hồi lâu, cuối cùng hắn mới phát hiện một trận pháp không cần trận nhãn ngũ hành phải phân bố đều, đó là trận Ngũ Hành Tỏa Long.