Nhờ mạng internet ngày càng phổ biến, thỉnh thoảng Tiền Thần cũng lên mạng xem thư pháp.
Đó là một thú vui, cũng như có người thích đọc tiểu thuyết, có người lại mê xem phim người lớn.
Năm Thuận Trị thứ nhất đời nhà Thanh, chính quyền Phúc vương Nam Minh cho rằng tài nghệ thư họa của Đổng Kỳ Xương có thể sánh với Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên, bèn truy tặng ông thụy hiệu giống Triệu Mạnh Phủ, là Văn Mẫn. Vì thế, hậu thế còn gọi ông là Đổng Văn Mẫn.
Đổng Kỳ Xương sống giữa thời thư pháp của Triệu Mạnh Phủ và Văn Trưng Minh thịnh hành, nhưng chẳng hề rập khuôn theo hai vị đại gia ấy. Ông dung hòa nét bút của nhiều danh gia đời Tấn, Đường, Tống, Nguyên, rồi tự tạo nên một lối riêng.
Tiền Thần bắt chước chữ của ông, quả thật khó lòng viết cho ra hồn.
Bởi vậy, bức chữ viết lúc đầu còn kém xa trình độ thật của hắn. Tiền Thần hết sức không hài lòng.
Ngưu Ô Tư và Ngô Khải đều nhận ra điều đó.
Ngưu Ô Tư lập tức khuyên:
- Không cần phải giống y như đúc. Chúng ta quay phim chứ đâu phải khai quật cổ mộ. Cứ viết theo sở trường của cậu là được.
Tiền Thần nghĩ lại, thấy cũng phải. Hắn định vò nát tờ giấy ấy rồi viết lại.
- Đừng mà, nhẹ tay thôi!
Ngưu Ô Tư nhanh như chớp nhào tới, cất ngay bức chữ Tiền Thần vừa viết.
May quá, may quá.
Một nhà thư pháp dù ở thời kỳ nào, tác phẩm của họ cũng đáng được sưu tầm.
Ngô Khải nhìn đến ngây người.
Chữ viết đẹp đến thế sao?
Hắn không am hiểu thư pháp bằng Ngưu Ô Tư. Nhưng nghề bác sĩ cũng giống nghề viết chữ, càng theo đuổi lâu năm, người ta càng cảm thấy tinh thông sâu sắc. Vì vậy, từ trước đến giờ hắn vẫn đánh giá thấp Tiền Thần.
- Tiền Thần, bức này cậu không đóng dấu à?
Ngưu Ô Tư cầm lên ngắm một hồi, cứ cảm thấy thiếu thứ gì. Lúc này ông mới nhận ra bức chữ trắng tinh, chẳng có lấy một con dấu.
Những bức trước Tiền Thần đưa ông cũng vậy.
Tiền Thần chợt hiểu ra, đúng là hắn sơ ý mất rồi.
Nhưng hiện giờ hắn nghèo rớt mồng tơi, ngày nào cũng phải vật lộn để khỏi tụt hạng, lấy đâu ra tâm trí lo chuyện ấy.
Hắn đành nói:
- Giờ tôi chưa có con dấu. Người nhà quản nghiêm lắm, bảo trước khi thư pháp thành tài thì không được tùy tiện đóng dấu.
Trước khi xuyên không, hắn có hơn mười con dấu, trong đó có dấu tự khắc, cũng có dấu do những bậc danh gia cùng thời khắc giúp.
Con dấu thường chia làm ba loại. Một loại khắc tên, hiệu, thư phòng, quê quán, tuổi tác và những thông tin tương tự. Chẳng hạn, Triệu Mạnh Phủ có các dấu “Triệu thị Tử Ngang”, “Tùng Tuyết đạo nhân”, “Thủy Tinh Cung đạo nhân”.
Cha nuôi Phùng Bảo của Tiền Thần thì khắc đơn giản một dấu “Phùng Bảo ấn”.
Ngoài ra còn có dấu khắc câu chữ nhàn tản, chẳng hạn “Chó chạy dưới trướng Thanh Đằng”.
Loại thứ ba là dấu giám tàng, thứ mà Càn Long rất quen dùng. Hễ thứ gì lọt vào mắt ông ta, ông ta đều muốn đóng một dấu lên đó.
Có lẽ đến mông phi tần ông ta cũng chẳng buông tha.
Đúng là tai họa.
Con dấu riêng Tiền Thần thường dùng nhất khắc bốn chữ “Trường Dương cư sĩ”, nghe rất tao nhã.
Chẳng khác mấy “Đại Điêu cư sĩ”.
- Chữ của cậu đã đạt đến mức nhập môn rồi. Nếu thế mà còn chưa gọi là thành tài, thì các nhà thư pháp khác sống sao nổi?
Ngưu Ô Tư ra sức khuyên Tiền Thần đóng dấu lên bức chữ. Lời ông nói cũng chẳng phải nịnh nọt. Dù xếp thư pháp của Tiền Thần vào thứ hạng nào trong bộ sưu tập của mình, thì đó vẫn là lối chữ ông yêu thích nhất đời.
- Để hôm nào tôi làm một con dấu rồi đóng cho ông.
Tiền Thần không muốn nhờ người khác khắc dấu riêng. Hắn định mua dụng cụ về tự khắc. Phía phim “Liễu Như Thị” đã trả gọn cho hắn bốn vạn tệ tiền cát-xê, hắn cũng có thể thở phào đôi chút. Tự khắc một con dấu chẳng tốn bao nhiêu thời gian.
Ngưu Ô Tư nghe vậy mừng rỡ.
- Vật liệu làm dấu cứ để tôi lo. Tối nay tôi sẽ bảo người mang tới.
Ông không chịu đi đâu, cứ đứng bên cạnh, chăm chú nhìn Tiền Thần viết chữ. Nếu có lúc Tiền Thần viết sai, làm hỏng giấy, ông cũng chỉ mong hắn đừng bỏ ngang. Viết hỏng một bức cũng được, miễn là cuối cùng làm ra một tác phẩm đáng sưu tầm, để ông mang về đóng khung, treo trong phòng chứa đồ.
Trong biệt thự nhà ông có hẳn một căn phòng lớn, treo đầy tranh chữ.
Lúc này, ở Hoành Điếm cũng có một người đang để tâm đến thư pháp của Tiền Thần. Đó là Lý Quán Kỳ, ông chủ tiệm Minh Thư Các.
Giáo viên chủ nhiệm của con trai ông đã mua buôn bốn mươi bức chữ của Tiền Thần, mỗi bức giá hai mươi tệ. Biết chuyện, ông liền bắt đầu tìm cách thu mua lại.
Trong bốn mươi bức ấy, giáo viên chủ nhiệm giữ lại hai bức, còn ba mươi tám bức thì tặng cho từng học sinh trong lớp. Con trai Lý Quán Kỳ mang về một bức.
Vậy là bên ngoài có tổng cộng ba mươi chín bức.
Ban đầu, Lý Quán Kỳ định nhờ giáo viên chủ nhiệm gom số chữ ấy lại giúp mình, nhưng người ta từ chối. Làm thầy, đã tặng học trò lời chúc chân thành thì đâu có chuyện lấy lại.
Ai cũng có giới hạn của riêng mình. Rõ ràng Lý Quán Kỳ chưa chạm đến giới hạn của giáo viên chủ nhiệm.
Ông chỉ còn cách nhờ con trai đi khuyên từng bạn một.
Ừ, khuyên bằng tiền.
Phần lớn học sinh không muốn bán món quà thầy chủ nhiệm tặng, nhưng cũng có hơn chục đứa thấy tiền là đổi ý.
Chẳng ngờ chuyện thu mua nhanh chóng đổ bể.
Một học sinh phát hiện Tiểu Lý trả người khác sáu trăm tệ, nhưng đến lượt mình chỉ chịu bỏ ra ba trăm. Sao cậu ta nuốt trôi chuyện ấy cho được? Cậu liền trách Tiểu Lý không coi mình là bạn, khinh thường mình.
Những người khác cũng nghe được giá “sáu trăm tệ”.
Chuyện vừa ầm lên, Tiểu Lý lập tức thành cái gai trong mắt cả đám. Hơn chục bạn học kia, cậu ta trả mỗi người một giá khác nhau.
Không được, đã trả cậu ấy sáu trăm thì cũng phải trả tôi sáu trăm, bằng không hãy trả lại bức chữ thầy chủ nhiệm tặng tôi.
Không được, đã cộng thêm cho cậu ấy ba trăm thì cũng phải cộng cho tôi…
Tiểu Lý đáng thương, còn chưa bước chân vào xã hội đã bị xã hội tát cho mấy cái.
Chuyện càng lúc càng lớn. Nhà trường gọi phụ huynh đến, yêu cầu Lý Quán Kỳ trả hết thư pháp cho học sinh, chấm dứt vụ mua bán tiền bạc ngay trong trường.
Thật bẩn thỉu!
Trường học là nơi để học hành. Con trai ông đã học lớp mười hai, chẳng mấy chốc là thi đại học, vậy mà ông còn chẳng biết nặng nhẹ.
Lý Quán Kỳ xấu hổ vô cùng, đành hoàn toàn bỏ ý định thu mua số thư pháp ấy.
Sau một phen ầm ĩ như vậy, ai cũng biết những bức chữ này không hề tầm thường.
Nhà họ Lý làm nghề gì vốn chẳng phải bí mật. Mọi người đều cảm động, hóa ra món quà thầy chủ nhiệm tặng quý giá đến vậy. Trước kia, ai cũng tưởng chỉ là hàng bán rong ngoài đường.
Giáo viên chủ nhiệm nghe chuyện cũng ngơ ngác. Giờ ông có giải thích thế nào rằng những bức chữ ấy chỉ là hàng chợ, giá hai mươi tệ một bức, cũng chẳng ai tin nữa.
Chuyện tạm lắng xuống, nhưng Lý Quán Kỳ vẫn không cam lòng. Ông giao tiệm Minh Thư Các cho bạn trông nom rồi mua vé máy bay đến Hoành Điếm.
Ông lang thang tìm kiếm khắp nơi như ruồi mất đầu.
Vận may của ông chẳng ra sao.
Ông từng đi ngang dưới lầu quán cơm Đại Tiền mấy lần, nhưng lần nào cũng chẳng ngẩng đầu nhìn lên.
Hoành Điếm chỉ là một thị trấn nhỏ, nhưng nổi tiếng có hai mươi vạn diễn viên quần chúng, chưa kể đủ loại người khác. Lý Quán Kỳ hỏi hết người này đến người nọ, vậy mà chẳng mấy ai biết cái “người bày sạp bán thư pháp” ông tả là ai.
Dù sao Tiền Thần cũng chỉ bày sạp ở Hoành Điếm hai ba ngày, lại còn bị người quản lý đuổi chạy khắp nơi.
Vất vả lắm mới có người cung cấp được chút manh mối, nhưng thông tin rời rạc, chắp vá lại chỉ được mấy chữ: diễn viên quần chúng, người trẻ tuổi, đẹp trai…
Lý Quán Kỳ ở lại hết ngày này sang ngày khác.
Ông thậm chí còn đi đăng ký thẻ diễn viên, làm diễn viên quần chúng cho ba bốn đoàn phim. Ông quyết định hòa mình vào đám đông, kiên nhẫn chờ vị đại gia thư pháp kia xuất hiện.
Ông Lý tội nghiệp, dẫu sao cũng xuất thân nhà nho, là ông chủ nhỏ có gia sản trăm vạn. Nào đã bao giờ phải chịu khổ thế này.
Dù vậy, ông cũng tìm được chút niềm vui khi làm diễn viên quần chúng. Có lẽ nhờ dáng vẻ, khí chất, ông còn may mắn được nhận một vai quần chúng có lời thoại trong bộ phim dân quốc.
Ông kiếm được ba trăm tệ.
Nước mắt lưng tròng.
Đại thần ơi, nếu ngài còn không xuất hiện, tôi sắp thành minh tinh mất rồi.