- Phù… Luyện Khí tầng ba rồi.
Kiệt Minh từ từ thở ra một ngụm khí đục. Hắn cảm nhận chân nguyên tinh thuần đang chảy trong cơ thể, chẳng khác nào dòng suối róc rách.
Có đủ điểm tích lũy trong tay, Kiệt Minh cũng không còn phải dè sẻn chuyện ăn uống. Các loại thực phẩm giàu năng lượng lần lượt được hắn đưa vào miệng.
Thức ăn bồi bổ căn cơ, nuôi dưỡng nguyên khí kết hợp với Tử Khí Đông Lai, lại thêm pháp môn thiền định không ngừng được nâng cao, khiến tu vi tu tiên của hắn tiến bộ như ngồi trên xe chạy nhanh.
Kiệt Minh nhập học mới vừa tròn nửa năm. Vậy mà từ tầng một Luyện Khí, hắn đã một mạch leo lên tầng ba.
Trong đan điền, chân nguyên kết thành một hồ nước rộng lớn và sâu hơn trước. Mỗi lần vận chuyển, hắn đều cảm nhận rõ sức mạnh đang tăng lên.
Dưới sự nuôi dưỡng của chân nguyên, thân thể hắn càng thêm bền chắc, trong ngoài thông suốt. Năm giác quan cũng trở nên nhạy bén hơn hẳn.
Cùng lúc đó, pháp môn thiền định của pháp sư cũng tiến triển vượt bậc.
Nhờ hệ thống tu tiên bồi dưỡng biển tinh thần và linh hồn, cộng thêm sự hỗ trợ của phòng thiền định cấp cao hơn, Kiệt Minh lại được công nhận là thiên tài nên chẳng cần che giấu tốc độ tu luyện. Hắn đã khắc thành công phù văn chân lý thứ tư trong sự nghiệp pháp sư, còn phù văn thứ năm cũng sắp hoàn tất.
Kiệt Minh tập trung tinh thần, quan sát bên trong cơ thể.
Giữa biển tinh thần, ba phù văn đại diện cho nền tảng luyện kim là “Chuyển hóa”, “Dung hợp” và “Tinh luyện” đang tỏa sáng rực rỡ. Ngay sau chúng, phù văn mới được khắc thành thứ tư cũng phát ra dao động tinh thần mạnh mẽ.
Về lựa chọn cốt lõi cho phù văn chân lý thứ tư, Kiệt Minh đã suy nghĩ rất kỹ.
Trong giai đoạn học đồ pháp sư, mỗi người cần khắc chín phù văn chân lý cốt lõi. Những phù văn này thường đặt nền móng cho hướng phát triển của pháp sư, đồng thời quyết định căn cơ năng lực về sau.
Hắn chuyên tu luyện kim học. Nhưng hệ thống các học phái pháp sư lại rộng lớn và phức tạp, phù văn của nhiều học phái có thể dùng chung hoặc hỗ trợ lẫn nhau.
Sau cùng, Kiệt Minh chọn một trong ba phù văn cốt lõi của phái dược học làm phù văn cốt lõi thứ tư: “Ổn định”.
Phù văn “Ổn định” có thể cân bằng kết cấu năng lượng và vật chất, ngăn phản ứng mất kiểm soát. Đây là nền tảng không thể thiếu của dược học.
Nó cũng là một phù văn phụ trợ của luyện kim học. Về sau, trong rất nhiều thí nghiệm luyện kim, người ta đều cần dùng đến phù văn này để kiềm chế năng lượng.
Chọn nó vừa giúp Kiệt Minh đào sâu trình độ luyện kim, vừa đặt nền móng cho việc nghiên cứu dược học sau này.
Kiệt Minh đã quyết định con đường tương lai của mình. Trong thời kỳ học đồ pháp sư, chín phù văn cốt lõi của hắn sẽ được chọn từ các học phái thuộc hệ hậu cần, gồm luyện kim học mà hắn đang theo đuổi, dược học và phù văn học.
Lựa chọn ấy, ngay cả trong số các pháp sư hệ hậu cần, cũng hiếm thấy.
Nhiều pháp sư hệ hậu cần sau khi khắc từ ba đến sáu phù văn cốt lõi của học phái mình thường sẽ chuyển sang khắc thêm vài phù văn chiến đấu, chẳng hạn như Tăng phúc, Năng lượng, Khiên chắn, Thi triển, Nguyên tố… Nhờ vậy, họ bù đắp được phần nào điểm yếu trong năng lực giao chiến trực diện.
Nhưng Kiệt Minh thì khác.
Bởi ngoài hệ thống pháp sư, hắn còn tu luyện một hệ thống khác.
Trong Thư Các Đại Đạo có ghi chép vô số pháp thuật chiến đấu tinh diệu, các môn thể thuật, cùng đủ loại phương pháp luyện chế phù lục và pháp bảo. Hắn vốn chẳng cần lo mình thiếu thủ đoạn đối địch.
Vì vậy, khi lựa chọn phù văn chân lý, hắn có thể gạt hẳn vấn đề sức chiến đấu sang một bên, dồn toàn bộ tinh lực vào việc tích lũy tri thức hệ hậu cần, đặt nền móng vững chắc cho sự dung hợp hai hệ thống ở cảnh giới cao hơn trong tương lai.
- Phù…
Điều chỉnh hơi thở xong, Kiệt Minh vẫn chưa kết thúc trạng thái tu luyện. Nhân lúc tinh thần còn phấn chấn sau khi đột phá, hắn chuyển sự chú ý đến trung tâm biển tinh thần.
Ở đó, được bốn phù văn chân lý vây quanh, là mô hình pháp thuật đầu tiên trong hệ thống pháp sư của hắn, hiện đang dần thành hình.
Việc học pháp thuật ở thế giới pháp sư không đơn giản chỉ là học “thần chú thi triển cộng với thủ thế”. Cách tu luyện ấy giống hệt các bước tu luyện pháp môn thiền định, đều phải xây dựng mô hình pháp thuật trong biển tinh thần của chính mình.
Bởi quá trình xây dựng mô hình pháp thuật cũng tiêu hao tinh thần lực, rất nhiều học đồ pháp sư, thậm chí cả pháp sư chính thức, đều không khắc quá nhiều mô hình. Nếu không, tiến độ tu luyện của họ sẽ bị ảnh hưởng.
Hơn nữa, độ khó khi xây dựng những mô hình pháp thuật ấy cao đến kinh người.
Trong nền văn minh pháp sư, mỗi pháp sư đều có thể xem là một nhà nghiên cứu. Còn một mô hình pháp thuật có thể hiểu là thành quả nghiên cứu của họ, được hoàn thành dựa trên hệ thống tri thức và hướng nghiên cứu riêng.
Pháp thuật được thi triển chính là cách ứng dụng cụ thể của thành quả ấy.
Bởi vậy, trên đời này không tồn tại hai mô hình pháp thuật hoàn toàn giống nhau.
Cho dù cùng là pháp thuật cơ bản thường dùng nhất của phái luyện kim, tức luyện kim thuật, mô hình do những pháp sư khác nhau xây dựng cũng sẽ có điểm khác biệt. Sự khác biệt ấy đến từ lượng tri thức tích lũy, cách lĩnh hội, cũng như trọng tâm nghiên cứu riêng của mỗi người.
Ưu điểm của cách xây dựng này là mô hình pháp thuật không phải một vật chết cứng, bất biến. Nó không có cấp bậc cố định rõ ràng.
Theo sự phát triển của hệ thống tri thức, sự hiểu biết về thế giới ngày càng sâu sắc và kỹ thuật không ngừng nâng cao, mô hình pháp thuật cũng sẽ liên tục được sửa đổi, hoàn thiện và tăng cường.
Do phương pháp học tập đặc biệt ấy, phần lớn pháp sư trong thế giới này thật sự nắm vững không nhiều mô hình pháp thuật “tự sáng tạo”… Cũng giống như rất nhiều nhà nghiên cứu ở kiếp trước, cả đời họ chỉ có vài thành quả nghiên cứu thật sự đáng giá.
Tất nhiên, điều này chỉ nói đến những mô hình pháp thuật được nắm vững một cách “đàng hoàng”.
Ngoài con đường chính thống, hệ thống pháp sư cũng tồn tại một tà đạo “không chính thống”. Người ta có thể học thuộc lòng, rồi cưỡng ép khắc mô hình pháp thuật do pháp sư khác xây dựng vào biển tinh thần của mình.
Làm vậy, dù hoàn toàn không hiểu nguyên lý bên trong, người học vẫn có thể thi triển pháp thuật tương ứng.
Chỉ có điều, những mô hình pháp thuật “sao chép” ấy đã mất đi khả năng phát triển và hoàn thiện.
Hơn nữa, khi chinh chiến ở các vị diện khác, nếu gặp phải tình huống quy tắc không tương thích hoặc những vấn đề bất ngờ, pháp thuật học thuộc lòng rất có thể sẽ mất tác dụng. Nó không thể tùy theo tình hình thực tế mà điều chỉnh, biến hóa như mô hình pháp thuật “chính thống” được xây dựng từ sự lĩnh hội của bản thân.
Những mô hình pháp thuật không chính thống ấy thường là thứ nhóm pháp sư hệ chiến đấu ham học nhất.
Bọn họ cần nhanh chóng nắm được đủ loại thủ đoạn công kích hoặc phòng ngự trực tiếp, còn nguyên lý bên trong chẳng quan trọng. Dùng được là đủ.
Thế nhưng trong những cuộc chiến tranh xâm lấn vị diện của nền văn minh pháp sư, thông thường người ta sẽ thu thập dữ liệu về vị diện của kẻ địch trước, sau đó dựa vào tin tức thu được để tùy thời điều chỉnh mô hình pháp thuật.
Vì có sự khác biệt giữa hệ chiến đấu và hệ hậu cần, việc điều chỉnh rồi đưa ra phương án đối phó thường do hệ hậu cần đảm nhiệm. Còn nguồn tin ở đâu mà có, dĩ nhiên phải trông vào những pháp sư hệ chiến đấu, những khẩu pháo biết đi ấy…
- Hệ hậu cần với hệ chiến đấu gì chứ, rõ ràng phải gọi là hệ chính thống và hệ bia đỡ đạn mới đúng…
Sau khi nhìn thấu bản chất “nghiên cứu và ứng dụng” của hệ thống pháp sư, Kiệt Minh không nhịn được mà thầm giễu trong bụng.
Bảo sao pháp sư Jack khi trước lại nói pháp sư hệ hậu cần mới là chính thống. Xem ra hiện giờ, pháp sư hệ hậu cần mới thật sự là những kẻ nắm được bản chất sức mạnh của pháp sư.