Lạc Xuyên, còn gọi là Lạc Ấp, có lịch sử văn minh hơn năm nghìn năm, lịch sử thành thị hơn bốn nghìn năm. Đây là một trong những cái nôi của văn minh Hoa Hạ, cũng là điểm đầu phía đông của Con đường Tơ lụa. Trong lịch sử, từng có mười ba triều đại chọn Lạc Xuyên làm kinh đô. Đến nay, dấu tích của năm tòa thành xưa vẫn còn đó. Quanh Lạc Xuyên, lăng mộ nhiều không đếm xuể. Ngay tại đây có quần thể mộ cổ Mang Sơn, khu lăng mộ lớn nhất Hoa Hạ.
Bề dày lịch sử ấy tạo nên nét văn hóa riêng cho Lạc Xuyên. Người ta thường nói, đào sâu ba thước dưới đất ở đây cũng moi được báu vật. Từ xưa đến nay, thành phố này luôn là nơi dân buôn đồ cổ khắp chốn tụ tập. Chợ đồ cổ vì thế cũng phồn thịnh theo. Người Bắc Kinh gặp nhau thường bàn chuyện chính trị, còn ở Lạc Xuyên, đi đến đâu cũng nghe người ta nói về đồ cổ.
- Anh Cương, trông sạp giúp em một lát, em đi nhà vệ sinh.
Sau sạp hàng bày la liệt đồ đồng ở chợ đồ cổ Lạc Xuyên, Tô Tiểu Phàm, vừa tròn hai mươi, cứ đứng ngồi không yên.
Không phải hắn mót tiểu. Chỉ là mí mắt phải giật liên hồi. Lần trước gặp điềm chẳng lành như vậy là hồi hắn mười một tuổi, đang học lớp năm. Khi ấy, để làm bài tập thầy giao về việc tốt, hắn cố tình đuổi theo, kéo một bà cụ tám mươi tuổi vừa qua đường quay trở lại. Kết quả bà cụ ngã ngồi phệt xuống đất, cháu trai bà đuổi hắn suốt ba con phố. Nếu không thuộc đường, hắn đã ăn một trận đòn no nê.
Gã Cương ở sạp bên cạnh cười mắng:
- Cậu còn trẻ thế mà thận yếu rồi à? Nãy giờ chạy nhà vệ sinh ba lượt rồi đấy.
Gã phẩy tay, ra hiệu cho Tiểu Phàm đi mau về sớm.
Anh Cương tên đầy đủ là Trịnh Đại Cương, ngoài ba mươi tuổi. Nhà gã vốn là dân ở lâu năm gần khu chợ đồ cổ. Trước kia, khi chợ giải tỏa để mở rộng, người ta lấy mất căn nhà cũ của gia đình gã, bồi thường mười hai căn hộ. Thế là Đại Cương bỗng thành cậu ấm nhà có mười hai căn nhà. Nhà gã giữ lại hai căn để ở, mười căn còn lại cho thuê. Từ nhỏ đã mê đồ cổ, gã dứt khoát bỏ việc, ra chợ bày sạp.
Trong chợ có những sạp cố định, cũng có cửa hàng. Nhưng Đại Cương thích bày hàng ngoài trời, thích mặc cả, tán chuyện với khách. Qua lại vài lần, gã quen Tiểu Phàm, người cũng bày sạp tự do như mình. Bảy ngày trong tuần, hai người thường dính với nhau đến sáu ngày. Chỉ chủ nhật Tiểu Phàm mới nghỉ, nói là phải về nhà chăm em gái.
Nhà vệ sinh nằm sâu trong chợ. Tiểu Phàm đi xuyên qua dãy sạp cố định, vào tận trong cùng giải quyết xong xuôi, rồi châm một điếu thuốc, tán dóc với ông chủ sạp gần đó một hồi mới thong thả quay về. Trong bụng hắn vẫn lẩm bẩm: Từ năm mười một tuổi đến giờ, mình có làm việc tốt thêm lần nào đâu. Hôm nay mí mắt giật dữ quá, xem ra có điềm chẳng lành. Thôi, lát nữa dọn sạp sớm về nhà vậy.
“Hửm? Mấy người kia làm gì thế?”
Vừa ra khỏi khu chợ, Tiểu Phàm đã thấy bốn năm người đứng trước sạp mình. Nhìn rõ một người trong số đó, hắn sững lại, rụt đầu, định quay vào trong, nhưng đã muộn.
Mắt Đại Cương tinh lắm, vừa thấy hắn đã oang oang gọi:
- Tiểu Phàm, cậu đi tè ra tận Thái Bình Dương hay sao mà lâu thế? Mau lại đây, có khách kìa. Cậu còn muốn buôn bán nữa không?
- Anh Cương, em… em đau bụng mà.
Thấy mấy người trước sạp quay đầu lại, Tiểu Phàm chỉ biết than thầm. Giờ có muốn chạy cũng chẳng kịp, hắn đành cứng đầu bước tới.
- Ôi, anh lớn đấy à! Thảo nào sáng nay vừa ra khỏi cửa em đã nghe chim khách kêu. Hóa ra khách quý tới thăm!
Tiểu Phàm bước nhanh lại, nở nụ cười rạng rỡ, lên tiếng chào một người trong đám.
Hắn vừa mới rũ hết vẻ non nớt, vóc dáng lại nổi bật khác thường. Cao một mét tám hai, mày kiếm mắt sáng; lúc cười còn phảng phất vẻ e thẹn của chàng trai trẻ. Với vẻ ngoài ấy, trong cả khu chợ khó tìm được người thứ hai. Mấy cô gái theo người nhà lớn tuổi tới dạo chợ thường thích ghé sạp hắn nhất.
- Chim khách à? Cậu chắc là không nghe quạ kêu đấy chứ?
Người đàn ông được Tiểu Phàm gọi là anh lớn trạc bốn mươi, vóc dáng không cao, người gầy rắn, đầu cắt tóc ngắn. Đôi mắt gã sáng quắc, nét mặt như cười như không, nhìn Tiểu Phàm đang bước tới.
- Sao có thể thế được? Anh lớn tới, đương nhiên phải là chim khách kêu rồi.
Tiểu Phàm đi tới sạp, lấy bao thuốc ra, thuần thục rút mấy điếu đưa cho những người trước mặt.
- Anh lớn, hôm nay lại tới ủng hộ em đấy à?
Người đàn ông trung niên gật đầu:
- Đúng vậy. Thu dọn sạp đi, chúng ta ra phía sau nói chuyện. Trời nắng thế này khó chịu quá, tìm quán trà ngồi nhé.
- Đừng mà, anh lớn. Em mới bày sạp được một lát, hôm nay còn chưa bán được món nào.
Nhìn vẻ mặt lạnh tanh của gã, Tiểu Phàm thấy sống lưng lạnh buốt. Hắn ngửi thấy trên người mấy kẻ này đều phảng phất mùi đất tanh không sao xua được. Lần giao dịch trước, hắn đã đoán ra lai lịch của người đàn ông kia.
Trịnh Đại Cương đứng bên cạnh cũng nhận ra có gì đó không ổn. Ban đầu gã cứ tưởng mấy người này ưng món đồ nào trên sạp Tiểu Phàm. Nhưng nghe hai người nói qua lại, gã hiểu ngay họ chẳng có ý tốt.
Tiểu Phàm bày sạp ở chợ đồ cổ đã gần hai năm. Đại Cương vẫn xem hắn như em út trong nhà. Gặp chuyện thế này, gã đương nhiên không thể khoanh tay đứng nhìn. Gã bước ngang, chắn trước mặt Tiểu Phàm rồi lên tiếng:
- Mấy vị có gì thì cứ nói cho rõ. Tiểu Phàm còn trẻ, nếu nó có gì thất lễ, tôi thay nó xin lỗi.
Người đàn ông đứng đầu lắc đầu:
- Cũng chẳng có chuyện gì to tát. Chỉ là tôi còn muốn làm thêm một vụ với cậu ta. Lần trước tôi mua một món đồ từ tay cậu ta. Cậu ta bảo là đồ Tây Chu, tôi bỏ tám nghìn mua về. Ai ngờ lại là đồ Tây tuần trước mới làm ra. Cậu nói xem, cậu ta có nên giải thích với tôi một lời không?
- À, ra là chuyện đó.
Nghe vậy, Đại Cương thở phào:
- Anh bạn, nhìn anh cũng giống người trong nghề. Đồ đồng là di vật văn hóa bị cấm mua bán. Nếu nó dám bày thứ thật lên sạp, chưa đầy mười phút đã bị tóm vào đồn rồi. Làm gì có chuyện nó sở hữu đồ Tây Chu? Đó là quốc bảo đấy. Theo tôi, anh tình nguyện mua, nó tình nguyện bán, chẳng thể trách Tiểu Phàm được.
Miệng nói, mặt Đại Cương đã không giấu nổi nụ cười. Chợ đồ cổ là nơi người ta ba hoa đủ chuyện. Hỏi đại một chủ sạp, kẻ nào chẳng dám thổi cái bô cũ của mình thành món đồ vua Càn Long từng dùng? Tiểu Phàm nói quá vài câu về món hàng của mình thì có gì lạ.
Huống hồ, sạp của Tiểu Phàm và Đại Cương chỉ là sạp tạm. Hàng đã bán thì không chịu trách nhiệm, chẳng hóa đơn, chẳng bảo hành. Đồ bán ngoài sạp vốn không đắt, khách mua cũng chỉ cốt vui; hầu hết đều biết món hàng chẳng phải đồ thật. Vì thế, Đại Cương bày sạp hơn mười năm mà chưa từng thấy ai quay lại bắt đền. Cửa hàng trong chợ thì thỉnh thoảng mới xảy ra tranh chấp.
Dẫu có cãi vã, Đại Cương cũng chẳng sợ. Mấy kẻ trước mặt trông dữ dằn thật, nhưng gã là dân gốc ở đây. Từ hồi còn mặc quần thủng đũng, gã đã lăn lộn trong khu chợ này. Nếu chúng định giở trò ngang ngược, gã chỉ cần gọi lớn một tiếng là chủ sạp khắp nửa khu chợ sẽ kéo tới. Bốn năm người này chẳng đáng ngại.
Người đàn ông trung niên phẩy tay với Đại Cương:
- Món đồ đó tôi không mua ở sạp. Chuyện thế nào, cậu ta biết rõ. Tôi chỉ muốn nói chuyện với cậu ta thôi. Cậu yên tâm, đây là địa bàn của các cậu, tôi không gây chuyện ở đây.
- Hửm? Chuyện gì thế?
Đại Cương quay sang nhìn Tiểu Phàm.
- Cậu lấy đồ thủ công làm giả đồ cổ đem bán à? Chuyện đó trái quy củ bên cậu đấy.
Đại Cương quen Tiểu Phàm đã mấy năm, hiểu khá rõ hoàn cảnh của hắn. Gã biết Tiểu Phàm xuất thân từ ngôi làng chuyên làm đồ đồng nổi tiếng ở Lạc Xuyên. Quy củ lớn nhất, cũng quan trọng nhất của làng là không được bán đồ đồng do dân làng làm ra như đồ thật; nhất định phải nói rõ với khách đó là hàng thủ công.
Ai dám phá quy củ ấy, ông lão lập nên làng đồ đồng sẽ chẳng nương tay. Nhẹ thì bị đuổi khỏi làng, nặng thì bị đưa thẳng vào đồn. Tiền bạc vốn dễ khiến người ta mờ mắt. Mấy chục năm qua, không phải chưa từng có ai nảy lòng tham, nhưng tất cả đều bị chính tay ông lão giải tới đồn. Kẻ bị phạt nặng nhất lĩnh án mười lăm năm. Từ đó về sau, chẳng ai dám trái quy củ nữa.
Trong nghề đồ cổ, mua hàng ngoài sạp thì người bán có thể nói khoác tùy ý; còn thật hay giả là do mắt nhìn của mỗi người. Vả lại, cũng chẳng ai dám bày đồ đồng thật ra bán ngoài sạp. Người mua lẫn kẻ bán đều ngầm hiểu hàng là giả. Nhưng nếu Tiểu Phàm bán riêng cho khách, Đại Cương không dám chắc hắn có phá quy củ hay không. Ở Lạc Xuyên, buôn lậu di vật văn hóa xảy ra như cơm bữa. Với tay nghề của Tiểu Phàm, người bình thường thật khó phân biệt thật giả.
- Em không phá quy củ đâu.
Nghe Đại Cương hỏi, Tiểu Phàm cuống lên, vội nói:
- Anh lớn, lúc đó em đã bảo món đồ ấy em không chắc, có khi chỉ là hàng thủ công. Chính anh nhất quyết mua nó đi, giờ sao lại quay lại bắt đền em?
Người đàn ông trung niên trừng mắt:
- Nhưng giấy biên nhận cậu viết cho tôi lại ghi là đồ Tây Chu.
Gã lấy từ trong túi ra một tờ giấy. Trong bụng gã cũng bực bội. Gã lăn lộn trong nghề hơn hai mươi năm, không ngờ lại vấp ngã trước một thằng nhóc non choẹt.
- Có viết giấy biên nhận à?
Đại Cương ngẩn người, lập tức quay sang trừng Tiểu Phàm. Thằng nhóc này bình thường lanh như khỉ, sao đến lúc then chốt lại hồ đồ thế? Nghề này ai lại viết giấy biên nhận cho khách, còn ghi cả niên đại lên đó. Chẳng khác nào chừa sẵn cái cớ cho người ta quay lại tính sổ.
- Anh lớn, anh nhìn nhầm rồi. Em viết giấy nào ghi đồ Tây Chu đâu?
Tiểu Phàm cười khổ, hất cằm ra hiệu cho Đại Cương nhìn tờ giấy trong tay người kia.
- Chữ “Tây” à? Không, đây là chữ “Tứ”, đồ Tứ Chu?
Đại Cương không cầm lấy tờ giấy, chỉ đưa tay lên trán che nắng giữa trưa rồi liếc nhìn. Vừa nhìn xong, gã bật cười. Gã đã biết Tiểu Phàm đâu thể nào để lại cho người ta cái cớ rõ rành rành như thế. Hóa ra hắn đã giăng sẵn một cái bẫy ngay trên tờ biên nhận.