Buổi họp đội ủy kết thúc, vấn đề Hứa Linh Quân đề ra đương nhiên cũng được giải quyết.
Đội ủy quyết định cho Ngưu Phượng Anh và mấy người làm công tác hậu cần mỗi ngày cử ra hai người, phụ trách hâm nóng cơm cho các cháu lúc trưa, nấu nước sôi, nhân lúc rảnh thì trông nom các cháu luôn.
Đương nhiên công việc này không phải làm không, hai người đảm nhiệm mỗi ngày đều được tính hai công điểm.
Chớ xem thường hai công điểm ấy, trời sắp lạnh rồi, thời điểm này phụ nữ kiếm công điểm không còn mấy cơ hội, đây tuyệt đối coi là một phúc lợi rồi.
Vị trí của trường học cũng được chốt trong buổi họp đội ủy lần này.
Hứa Linh Quân cân nhắc nhiều mặt, cuối cùng không chọn khoảnh đất trống cạnh nhà mình nữa, mà chọn dựng trường ngay cạnh đội.
Tuy chọn vậy thì trường sẽ nhỏ đi nhiều, sân vận động cũng chỉ đành biến thành cái sân thôi, nhưng bù lại là tiện và an toàn.
Vì thế buổi trưa họ có thể mượn nhà ăn của đội để hâm cơm đun nước cho các cháu, chẳng may không được thì cái sân của đội cũng dùng làm sân vận động được.
Còn nữa, đặt trường trong thôn xét ra cũng an toàn hơn.
Hứa Linh Quân tuy mới làm thầy được một ngày, nhưng hắn coi như cũng hiểu rồi, bọn trẻ thời đại này nghịch đến mức nào. Chỉ mấy đứa làm đầu mục thì không quản nổi cả bọn.
Đặt trường ngoài thôn, hắn nghĩ mà biết về sau mình chẳng cần làm gì, suốt ngày chạy khắp nơi đi tìm lũ trẻ trốn học thôi.
Cứ vậy lại qua thêm bốn năm ngày, nhờ có Ngưu Phượng Anh và mấy người hâm cơm trông nom trưa, Hứa Linh Quân nhàn đi hẳn.
Nhưng qua mấy ngày, lũ trẻ cũng hết cái hứng mới đi học.
Mấy đứa lớn kia không biết là nghịch quen rồi không muốn ngồi lớp, hay ở nhà có việc không cho đến.
Dù sao thì sau bốn năm ngày hăng hái, bắt đầu có hiện tượng nghỉ học lần lượt.
Hứa Linh Quân là một thầy giáo rất có trách nhiệm, hắn còn đi gặp phụ huynh của chúng để nói chuyện.
Mấy bậc cha mẹ này bề ngoài đều rất nhiệt tình, nhưng thực ra thái độ ai cũng giống nhau.
Đa số phụ huynh đều mặc kệ, tùy chúng thích thì thôi.
Vốn họ cũng chẳng mong con học được ra gì, cho rằng biết chữ hay không đều như nhau, dù sao sau này cũng đi chăn cả, không muốn đi học thì nghỉ, vừa hay ở nhà phụ giúp được chút việc.
Đương nhiên cũng có mấy nhà con cái thì muốn đến lớp, nhưng cha mẹ lại không muốn.
Vì mấy nhà này đông con, ngày thường cha mẹ không kịp trông, đều anh chị lớn dắt em nhỏ.
Như một đứa mười tuổi trong lớp, phải ở nhà trông hai em, nó đi học thì ai trông hai em, nên cha mẹ nó cũng chẳng muốn cho nó đi.
Tình hình này ba đội trưởng ba đội đương nhiên đều biết, hồi đó họ cho bọn trẻ đến trường xuất phát điểm đương nhiên là tốt.
Nhưng thực tế là vậy, nhà nào cũng có nỗi khó của nhà nấy, họ cũng không có cách nào tử tế.
Giờ chỉ có thể khuyên nhủ, gắng để bọn trẻ đến lớp, đồng thời nhờ Hứa Linh Quân bao dung hơn chút.
Vấn đề là việc này không phải chuyện hắn bao dung hay không, thực sự là lũ trẻ khác trong lớp cũng đang dò xem mà.
Vốn bọn trẻ này đã không ngồi yên được, nếu tất cả cùng ngồi trong lớp thì còn chịu đựng nổi.
Nhưng cùng là đi học, có đứa hôm đến hôm nghỉ, làm sao chúng không bị ảnh hưởng.
- Chị xem, mấy ngày đầu trường này người còn đông lắm, mấy hôm nay học trò ít đi rõ.
Hôm nay tan học xong, đội tám đón bọn trẻ về. Tuy khẩu hiệu của các cháu vẫn vang rền, nhưng đã có mấy bậc cha mẹ thầm thì nói móc.
- Đúng thế! Tôi bảo rồi, việc này chẳng đáng tin, đội lập trường tiểu học mà có mỗi một thầy dạy hợp đồng, sao so nổi trường tiểu học của bộ nông trường.
- May mà tôi đưa con đi học trường ở bộ nông trường, tuy con vất vả hơn chút, phải đóng học phí, nhưng ít ra không phải đứa nào cũng nhận, nó còn theo học được tới lúc ra trường.
Xem ra vị này là đã gửi con sang trường bộ nông trường học rồi.
Mấy hôm trước lúc trường của Hứa Linh Quân vừa khai giảng, vị này còn đỏ mắt ghen tỵ, hối hận chưa gửi con đến đó học, như vậy một năm cũng tiết kiệm được kha khá học phí.
Nhưng giờ thấy đội tám vốn có hai mươi cháu đi học, giờ chỉ còn mười một mười hai đứa, lời mát mẻ thế là thốt ra.
- Chị nói quả không sai, chỉ học tới lớp hai, tuy không tốn học phí, nhưng lên lớp ba vẫn phải sang bộ nông trường.
- Đến lúc đó theo nổi chương trình bên đó hay không còn chưa biết. Đây chẳng phải là hại lỡ con cái sao!
Câu tục ngữ nói đúng lắm: “Cái lưỡi là miếng thịt mục, nói sao chẳng có lý.”
Mới có mấy ngày, chỉ vì mấy câu nói móc của hai người này, nhiều người đã đổi giọng điệu.
Mấy lời thì thầm ấy cũng mới truyền ra, lại ở đội khác, Hứa Linh Quân đương nhiên không nghe thấy.
Việc này thực ra có thể lớn cũng có thể nhỏ, nếu đến cuối cùng chẳng còn đứa nào đến lớp hắn, thì cái thầy dạy hợp đồng như hắn cũng chỉ là thứ có cũng được không cũng không sao.
Đương nhiên phụ huynh học trò đều không công nhận, thì cái trường của đội chắc chắn cũng không làm được nữa.
Nhưng dù Hứa Linh Quân có biết chuyện này cũng chẳng sao, vì chính sách mới của hắn sắp xuất đài.
Phùng Học Văn hôm nay đến trường rất sớm. Nó là lớp trưởng tuần này, phải đi đầu gương mẫu chứ.
Nhưng vừa đến nó đã thấy thầy Hứa đang lục đục ở bức tường cuối lớp học.
Bức tường vốn trát vôi trắng nay đã thành màu đen, như một tấm bảng đen lớn.
Thầy Hứa kẻ trên đó vô số ô, trên ghi đầy tên các bạn học.
Dòng trên cùng viết ba chữ to, Phùng Học Văn chỉ nhận ra một chữ, là chữ “dự”.
- Dự… Phùng Học Văn nhìn bức tường, bất giác đọc ra chữ ấy, nhưng mấy chữ sau thì tắc nghẹn.
- Bảng danh dự, hê hê, Học Văn đến rồi à. Trên đây viết ba chữ Bảng danh dự. Nhân tiện cháu xem hộ thầy cái khung này kẻ có bị lệch không.
Hứa Linh Quân nghe tiếng quay đầu lại, hóa ra là Phùng Học Văn đến. Làm mấy ngày thầy giáo hắn cũng đã thích ứng với thân phận hiện tại.
Tối qua hắn trằn trọc nghĩ mãi, trước cái bầu không khí xấu trong lớp do mấy đứa lớn ảnh hưởng, hắn quyết định tung sát thủ chiêu: chế độ hoa đỏ.
Cái chế độ này dụ dỗ trẻ con… không đúng, nên nói là chế độ này để nâng cao tính tích cực của trẻ thì hiệu quả phi thường.
Như Hứa Linh Quân kiếp trước hồi nhỏ cũng chẳng ít lần bị cái hoa đỏ này huyễn hoặc.
Chỉ cần thầy bảo ai ngồi thẳng nhất, nghe giảng chăm nhất thì thưởng một bông hoa đỏ, lũ trẻ lập tức biến thành từng đứa tiêu chuẩn mực.
Còn những thứ khác như lao động giỏi nhất, phát biểu tích cực trên lớp, đến trường đúng giờ vân vân, đều được tính bằng hoa đỏ cả.
Đương nhiên về công dụng của hoa đỏ, các thầy cô cũng dụng tâm lắm.
Chẳng hạn gom đủ năm bông đổi được một cục kẹo, đủ mười bông thưởng một quyển vở, hoặc một cây bút, đủ mười lăm bông thưởng một tờ giấy khen các kiểu.
Thậm chí còn có thể dùng các chức như tổ trưởng vài người, các loại ủy viên gì đó để dụ dỗ.
Tóm lại là biến đủ thứ chiêu để trẻ nghe lời, biến đủ trò để trẻ tích cực hơn.
Khi lũ trẻ đến lớp càng lúc càng đông, chúng cũng hiểu đại khái công dụng của cái bảng danh dự này.
Sau một hồi thuyết giảng (dụ dỗ) của thầy Hứa, mặt mũi bọn trẻ phấn khích đỏ bừng.
Hỏi rối rít, làm việc tốt được mấy bông hoa đỏ, ngày nào cũng đến lớp được mấy bông, đủ các kiểu.
Trong bụng nhỏ còn mưu tính, đợi có hoa đỏ rồi thì đổi kẹo ăn cho đã miệng trước, hay dành lại đổi quyển vở nhỉ.
“Đương nhiên phải lấy giấy khen.”
Phùng Học Văn hô to trong bụng. Đổi kẹo đổi vở gì chứ, đâu thực tế bằng được vinh dự.
Nếu được tờ giấy khen thì oai phong biết mấy, đến lúc đó xem còn ai nói Phùng Tam nó chỉ biết đánh nhau nữa không.