Một đạo phân thân của Triệu Hưng đến Bích Thủy đạo viện.
Bích Du Thương Hải của Bích Thủy đạo viện có thể giúp người ta đi đường rất nhanh.
Lúc này Tần Hồng Anh không có mặt. Theo hiệu lệnh của công chúa U Nhược, cao thủ trong Bích Thủy đạo viện đã ồ ạt xuất động, gia nhập tuyến phòng thủ trên biển chống lại thủy tộc.
Hiện giờ, trong bảy dãy đảo ngoài khơi Đông Hải, chỉ còn ba dãy chưa bị đánh thủng. Phần lớn là nhờ ảnh hưởng của công chúa U Nhược.
Người ra tiếp hắn là Văn Quý. Vị Ngự Thú sư Cảnh Nguyên Phách này trông khá mệt mỏi.
- Tuyến đường từ Bích Du Thương Hải đến phủ Đại Thông sẽ mở vào giờ Tý. Thần An, ngươi còn phải đợi hai canh giờ nữa.
- Làm phiền tiên sinh rồi. Không biết tiên sinh có gặp được ông Địch không?
Trước kia, Triệu Hưng từng ở chung một thời gian với hai vị chưởng ty của Ngự Thú ty là Văn Quý và Địch Trọng, cũng học hỏi từ họ không ít kiến thức về ngự thú.
Văn Quý thở dài:
- Địch Trọng đã phản bội, rời khỏi Bích Thủy đạo viện rồi.
- Cái gì?
Triệu Hưng sững người. Vị chưởng ty Ngự Thú ty ấy vậy mà lại phản chạy?
Hắn chợt nhớ đến thời Đông Hải rung chuyển, khi hết hòn đảo này đến hòn đảo khác bị tập kích.
Khi ấy từng có lời đồn rằng người ta trông thấy Địch Trọng. Triệu Hưng còn tưởng đó là một đạo nhân của Bích Thủy tông đã tách ra, giả mạo Địch Trọng.
Bây giờ xem ra, lời đồn ấy lại là thật.
- Địch Trọng…
Triệu Hưng bất giác nhớ đến dáng vẻ của vị Ngự Thú sư kia. Địch Trọng lúc nào cũng cười cười, đối đãi với mọi người rất hòa nhã.
Khi ấy, hắn chỉ là một viên quan lục phẩm, còn Địch Trọng là chưởng ty tứ phẩm, vậy mà chẳng hề lên mặt.
Không ngờ người này lại phản bội. Có lẽ từ lâu hắn đã đầu quân cho Lương vương.
Mười năm trôi qua, cảnh vật vẫn còn đây mà người xưa đã đổi khác.
Thấy Văn Quý không muốn nói thêm, Triệu Hưng cũng thôi không hỏi nữa. Hắn đi theo Văn Quý đến bên một hồ nước tròn, đứng chờ.
Hồ có bán kính năm cây số, phạm vi rộng đến kinh người.
Mặt nước không gió vẫn tự dậy sóng. Từng đợt sóng cao ba bốn mét liên tục nhô lên.
Nơi này chẳng giống hồ nước, mà như một vùng biển lớn đang cuộn trào.
Trên mặt hồ, mây mù quanh năm không tan.
Triệu Hưng vừa đến chẳng bao lâu, giữa không trung trên hồ đã hiện ra một bức tranh hư ảo.
Trong tranh phản chiếu hình ảnh một tòa thành cổ. Kiến trúc trong thành hiện lên rõ mồn một, cung điện nguy nga, lầu gác cao vút, phố phường nhộn nhịp. Thậm chí còn trông thấy cả người bán hàng rong và dân phu qua lại trên đường.
Thấy vẻ khác lạ trên mặt Triệu Hưng, Văn Quý giải thích:
- Đó là cảnh biển hiện trên trời, phản chiếu điểm truyền tống kế tiếp.
- Bích Du Thương Hải chỉ có thể sử dụng trong phạm vi Bình Hải châu, bởi nơi này trước kia vốn là vùng biển rộng.
- Trải qua mấy nghìn năm, mạch biển dần dần dịch chuyển, tác dụng của Bích Du Thương Hải cũng suy yếu theo.
- Nếu là thời Thái Tổ, ngươi chẳng cần phải chờ đợi. Chỉ trong chớp mắt đã có thể xuất hiện trong địa phận phủ Đại Thông rồi.
Văn Quý bỗng nhìn mặt hồ, nói:
- Mau nhìn kìa, thủy triều dâng rồi. Người cũng sắp đến, chúng ta lui ra xa một chút.
Văn Quý kéo Triệu Hưng lùi lại.
Triệu Hưng ngẩn ngơ nhìn mặt nước.
Ở kiếp trước, hắn chỉ từng sử dụng công năng của Bích Du Thương Hải ba lần.
Bởi quyền sử dụng thứ này thật ra rất khó kiếm. Mỗi lần truyền tống đều phải tốn một khoản tiền lớn.
Hơn nữa, cảm giác như sắp chết đuối thật chẳng dễ chịu gì. Nếu không phải đang cần kíp, lão gia Triệu Hưng chẳng muốn dùng cách này để truyền tống.
Ào…
Mặt biển đột nhiên dâng lên một con sóng cao hai ba mươi mét.
Sau đó, ngọn sóng nhanh chóng sụp xuống.
Trong lúc sóng nước cuộn ngược, một chiếc thuyền nhỏ lúc ẩn lúc hiện, trông như có người đang cưỡi sóng.
Đột nhiên, một tiếng vang lớn nổ ra.
Theo dòng nước đảo chiều, chiếc thuyền biển bị hất văng ra ngoài.
Nước biển ầm ầm đổ xuống.
Trong khu vực truyền tống, nước biển tựa như vừa lật mình một lượt.
Triệu Hưng nhìn chằm chằm cảnh tượng ấy, trong lòng dần hiểu ra.
Thần thức nhạy bén giúp hắn nhận thấy một phần nước biển đã không còn là nước cũ.
Chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, một dòng nước biển có thành phần khác lạ đột ngột xuất hiện, thay thế dòng nước ban đầu.
Cũng chính trong khoảnh khắc ấy, những dòng nước biển đan xen, rung chuyển lẫn nhau.
Truyền tống hoàn tất.
Nước biển cùng người và vật ở nơi xa xôi đã được đưa đến đây.
Chiếc thuyền nhỏ bị hất văng kia có mười ba người Cảnh Thiên Cương lục phẩm và hai người Cảnh Thuần Nguyên ngũ phẩm bước xuống.
Mười ba người Cảnh Thiên Cương vừa rời thuyền đã đồng loạt ôm bụng nôn khan.
Hai người Cảnh Thuần Nguyên ngũ phẩm đỡ hơn đôi chút, nhưng cũng phải lắc đầu liên hồi, hơi thở rõ ràng không thông thuận.
Văn Quý giới thiệu:
- Người lục phẩm truyền tống qua Bích Du Thương Hải, trong ba ngày đầu triệu chứng sẽ giảm dần. Nhưng thường phải mất chừng một tháng, cảm giác như bị chết đuối mới hoàn toàn biến mất.
- Người ngũ phẩm đỡ hơn nhiều. Nghỉ ngơi một ngày là có thể ra trận, ảnh hưởng không lớn. Sau ba đến năm ngày, phần ảnh hưởng ấy sẽ bị loại bỏ hoàn toàn.
- Tất nhiên còn phải xem quãng đường truyền tống dài bao nhiêu. Nếu truyền đến hồ muối ở tận phía tây, vượt ngang toàn bộ Bình Hải châu, cảm giác ấy sẽ nặng hơn.
- Còn nếu là người Cảnh Mệnh Hồn tam phẩm thì hoàn toàn có thể bỏ qua cái giá này.
Văn Quý nhìn Triệu Hưng:
- Thần An, nếu ngươi đến phủ Đại Thông để xử lý việc gấp, tốt nhất nên chọn công vụ không liên quan đến chiến đấu. Nếu không, ít nhiều cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Triệu Hưng gật đầu:
- Đa tạ tiên sinh đã nhắc nhở.
Ảnh hưởng do cảm giác chết đuối gây ra không hẳn nghiêm trọng, nhưng cũng chẳng thể xem nhẹ.
Nếu vừa truyền tống qua đó đã phải lập tức giao chiến sinh tử, dù chỉ để lộ một sơ hở rất nhỏ, kẻ địch cũng có thể nắm lấy.
Dĩ nhiên Văn Quý không biết Mệnh Hồn của Triệu Hưng đã đạt tam phẩm. Hắn cũng chẳng cần khoe chuyện ấy ra.
Chiếc tù và biển đeo bên hông Văn Quý bỗng truyền đến một âm thanh ngắn.
Một dòng nước phủ lên lòng bàn tay hắn. Những giọt nước rung động theo nhịp điệu kỳ lạ.
Triệu Hưng liếc qua. Đây là phương thức liên lạc bí mật trong nội bộ Bích Thủy đạo viện.
Hàng chục giọt nước khẽ gõ lên lòng bàn tay và mu bàn tay Văn Quý. Chỉ trong chớp mắt, chúng đã truyền đến một lượng tin tức phức tạp.
Văn Quý không tránh Triệu Hưng. Hắn là bác sĩ trị kinh của Bích Thủy đạo viện, cũng là người nhà.
- Thần An, ta vừa nhận lệnh khẩn điều động, không thể ở đây tiếp ngươi nữa.
- Việc công quan trọng, tiên sinh cứ đi trước.
Hai người chắp tay chào nhau. Văn Quý hóa thành một dòng nước, chìm xuống lòng đất rồi chạy về hướng đông.
Trời dần tối.
Đến giờ Tý, cảnh biển hiện trên trời của phủ Đại Thông xuất hiện.
Triệu Hưng nhảy lên thuyền bay.
Ào…
Sóng biển cuộn trào. Chiếc thuyền nhỏ lật ngược, nuốt cả người lẫn thuyền vào trong.
Phủ Đại Thông, quận Nhĩ Hải, Bích Thủy đạo viện.
Ào…
Một chiếc thuyền nhỏ bị ngọn sóng hất văng lên.
Triệu Hưng bay xuống khỏi thuyền. Khi chiếc thuyền còn chưa dừng hẳn, hắn đã hóa thành một vệt sáng, bay thẳng lên trời.
Những người đang chờ truyền tống đều ngẩng đầu nhìn theo.
- Ủa, sao bên trong trống không vậy?
- Vừa rồi là thứ gì bay qua thế?
- Thuyền còn chưa đứng yên mà người đã bay mất. Chắc chắn là cao thủ tam phẩm.
- Ghê thật. Chẳng biết đến bao giờ ta mới có được phong thái ấy, bay lên bay xuống mà chẳng ai hay biết.
- Ta thì chỉ thấy ghen tị thôi. Lần nào ngồi thuyền lướt sóng xong, ta cũng có cảm giác chân chẳng chạm đất. Dùng thuật bay trên không thì lảo đảo xiêu vẹo, lần trước suýt nữa đâm đầu xuống ao bùn.
- Chứ còn gì nữa. Lần nào ta cũng thấy như vừa ăn cả một bữa hải sản, buồn nôn muốn chết.
- Nghe nói mượn lửa mà đi của Bích Hỏa đạo viện dễ chịu hơn nhiều.
- Dễ chịu cái quỷ! Dùng đàn tế thần lửa xong, ngươi cũng bị nôn đến lả người thôi!
Quận Nhĩ Hải cách phủ thành rất xa, chủ yếu vì việc truyền tống của Bích Thủy đạo viện bị địa thế hạn chế.
Hiện giờ, một nửa phủ Đại Thông nằm trong tay phe Lương vương, nửa còn lại vẫn chịu sự cai quản của triều đình.
Phần đất do Lương vương chiếm giữ phần lớn đều liên quan đến những lối vào động thiên.
Chẳng hạn như núi Ngũ Bàn ở phủ Đại Thông. Lối vào Thập Dương động thiên mà năm xưa Triệu Hưng từng đi qua đã rơi vào tay Lương vương.
Hiện giờ, phủ Đại Thông có hai cơ quan cấp phủ.
Phủ thành Đại Thông vốn có nay đã cắm cờ Hắc Long của Lương vương.
Hệ thống quan phủ ban đầu của Đại Thông được dời về quận Diệp ở phía tây.
La vương nâng quận Diệp lên thành phủ thành, đưa toàn bộ quan viên ban đầu đến đó.
Nhưng vẫn có những thứ không thể dời đi, chẳng hạn như đàn tế thần lửa của phủ Đại Thông.
Vì vậy Triệu Hưng không thể dùng cách ấy để đến phủ Đại Thông.
Nhìn trên bản đồ, phủ Đại Thông đại thể bị sông Tùng Giang chia thành hai nửa. Các quận phía tây nằm dưới quyền triều đình, còn phía đông đã bị Lương vương chiếm giữ.
Quận Lâm Hải nằm ngay trên đường phân chia ấy. Hạ Tĩnh và những người kia đang đánh du kích tại đây.
Thành quận Lâm Hải đã mất liên lạc với triều đình từ tháng hai. Sang tháng ba, nơi này lại thuộc phe triều đình. Đến tháng tư, nó một lần nữa rơi vào tay Lương vương. Chẳng biết quan quận thủ đã chết bao nhiêu người.
Sở dĩ tình hình thay đổi liên tục như vậy là vì quận Lâm Hải chẳng có gì quan trọng. Hai bên đều không muốn bỏ quá nhiều binh lực để tranh giành nơi này.
Thảo nào Hạ Tĩnh nói bọn họ chẳng khác gì ruồi mất đầu. E rằng chính hắn cũng đang mơ hồ, không biết nên đi đâu về đâu.
Lương vương không để tâm đến những vùng còn lại của phủ Đại Thông. Hắn chỉ cần nắm những nơi có lối vào động thiên. La vương cũng không đủ sức lập tức giành lại chúng.
Phủ Đại Thông có dân cư đông đúc. Nếu cao thủ cấp cao dẫn đại quân giao chiến, chưa cần biết bên nào thắng, cuối cùng nơi này cũng sẽ tan hoang, mười nhà thì hết chín nhà chẳng còn ai.
Không có mệnh lệnh tác chiến rõ ràng, lại thêm đội quân Thập Dương do võ tướng tứ phẩm Hạ Tĩnh chỉnh hợp đang đóng tại đây, quả thật chẳng biết nên làm gì.
Triệu Hưng truyền âm:
- Hạ huynh, ta sắp đến quận Lâm Hải rồi. Báo vị trí của huynh cho ta.
Hạ Tĩnh nhanh chóng đáp lại:
- Bọn ta đang ở huyện An Sơn.
Triệu Hưng nhìn bản đồ, sau đó hóa thành mây mù rồi biến mất tại chỗ.
Quận Lâm Hải, huyện An Sơn, bên ngoài thành.
Xoẹt!
Một đám mây tan ra. Bóng Triệu Hưng hiện lên trên bầu trời huyện thành.
- Kẻ nào đó?
Trong thành lập tức có ba luồng sáng vàng bay lên, nâng theo mây nước xông thẳng tới.
Vút, vút!
Mười sáu cây nỏ Phá Thần bắn về phía Triệu Hưng.
Chỉ một động tĩnh ấy đã lập tức kéo theo phản ứng dây chuyền.
Bên trong thành phòng thủ, các loại trận khí cơ quan, chiến thuyền thần binh, trận thế võ giả đồng loạt khởi động. Tiếng trống lớn vang lên dồn dập.
Triệu Hưng lập tức thổi gió truyền âm về phía ba người đang bay đến:
- Viện trưởng Mai, tiền bối Lý, tướng quân Vệ, là ta đây!
Bởi hắn thi triển thuật Xích Thiên Nhai, người đầu tiên nhận ra sự thay đổi của thiên thời chính là quân tư nông của Huyền Giáp quân, Lý Nguyên Chân.
Vào tháng hai năm Cảnh Tân thứ mười tám, hai bên tạm thời ngừng chiến. Lý Nguyên Chân từng cùng Liễu Thiên Ninh xuất hiện tại Quan Tế Hồn, che chở cho quân đội của Triệu Hưng, Long Tiếu và Trần Thời Tiết rút khỏi tiền tuyến.
Mai Chi Nho là viện trưởng Thiên Thời viện của Thập Dương động thiên.
Vệ Uyên là điển nông đô úy của Hổ Giao quân, từng mời Triệu Hưng gia nhập Hổ Giao quân.
Cả ba đều là tư nông phái Thiên Thời.
Triệu Hưng thi triển thuật Xích Thiên Nhai, không hề cố ý che giấu. Một đám mây mù đột ngột xuất hiện trên huyện thành, đương nhiên rất nhanh đã bị bọn họ phát hiện.
- Là Triệu Hưng!
- Dừng tay!
Lý Nguyên Chân, Vệ Uyên và Mai Chi Nho lập tức ra lệnh ngừng tấn công.
Chẳng bao lâu sau, Hạ Tĩnh dẫn theo một nhóm người vội vã từ trong thành chạy ra.
- Hầu gia!
- Triệu Hưng đến rồi!
- Thiên tài của Thập Dương động thiên chúng ta trở về rồi!
Triệu Hưng chắp tay chào ba người, chẳng mấy chốc đã bị đám người cùng thời vây quanh.
Xa Thế Hải mừng rỡ reo lên:
- Lão đại đến rồi! Lão đại, ta là Xa Thế Hải đây, huynh còn nhớ ta không?
Triệu Hưng cười đáp:
- Nhớ chứ. Sau khi kết thúc đợt huấn luyện phá vòng vây, chính ngươi lái thuyền bay xuống rãnh, còn giẫm lên đầu Vương Quý.
Xa Thế Hải cười hì hì, vỗ ngực:
- Lão đại, giờ kỹ thuật của ta giỏi lắm rồi. Lái chiến thuyền cũng chẳng thành vấn đề!
Một võ giả chen đến:
- Triệu tư nông, ngài còn nhớ ta không? Ta là Trần Phóng. Năm xưa ta từng cùng Hạ huynh ăn quả Ma Ngư do ngài trồng đấy.
Hạ Tĩnh quát:
- Trần Phóng, tên giặc này, ngươi không thể nhắc chuyện nào khác được à?
Triệu Hưng nhe răng cười:
- Nhớ chứ. Trong đợt huấn luyện phá vòng vây, ngươi trúng pháp thuật làm lú lẫn của một Lễ tu. Chương Kiệt ngồi xổm bên cạnh đi ngoài, còn ngươi thì chảy nước dãi nhìn hắn.
Mọi người lập tức đồng loạt nhìn Trần Phóng bằng ánh mắt ghét bỏ.
- Nói bậy! Ta không có! Ta chẳng nhớ gì hết!
Trần Phóng đỏ mặt phân bua.
Mọi người phá lên cười.
- Còn ta nữa, còn ta nữa! Giang Minh của Trấn Hải quân đây. Triệu Hưng, ngài còn nhớ ta không? Ta từng tặng ngài một con rùa!
- Nhớ.
Triệu Hưng cười, gật đầu.
Hạ Tĩnh chỉ vào Triệu Hưng:
- Đương nhiên hắn nhớ. Khi nghỉ ngơi ở Quan Tế Hồn, hắn đã chém con rùa ấy, chỉ lấy mai mà không lấy thịt.
- Khi ấy Triệu Hưng phụ trách hậu cần. Bộ của ta, bộ Liêu Như Long và bộ Ôn Thiếu Dương phải ăn thịt rùa suốt cả tháng!
- Nửa đêm các tướng sĩ đi nhà xí, ai cũng nhìn thấy hồn rùa bò đầy mặt đất.
- Suýt nữa dọa chết người!
Xung quanh lại vang lên một trận cười lớn.
Hạ Tĩnh kéo thêm một người tới:
- Triệu Hưng, ngươi còn nhớ người này không?
Những người khác đều cười nói phóng túng, người nọ lại nghiêm chỉnh đến từng li từng tí. Quần áo trên người ngay ngắn thẳng thớm, trong tay cầm một tấm thẻ gỗ. Chỉ đến khi nhìn thấy Triệu Hưng, giữa hàng mày hắn mới lộ vẻ kích động.
Triệu Hưng nhìn kỹ:
- Ngươi là Trương Nghi?
- Chính là ta. Trương Nghi bái kiến Hầu gia.
Trương Nghi chắp tay hành lễ.
- Bao nhiêu năm trôi qua mà ngươi vẫn giữ lễ như vậy. Không làm Tư Nghi nữa, chuyển sang tu Lễ đạo rồi à?
Hiện giờ chức quan của Triệu Hưng cao hơn Trương Nghi rất nhiều, vốn không cần đáp lễ. Nhưng để giữ thể diện và giúp Trương Nghi tu hành, hắn vẫn chắp tay đáp lại.
Hạ Tĩnh cười nói:
- Đúng vậy. Năm xưa ở Vân Thành, ngươi dạy Trương Nghi mời thần mà không tiễn thần. Đám quỷ hồn lực sĩ Bạch Phiêu kia… Bây giờ người ta không làm Tư Nghi nữa, chuyển sang tu Lễ đạo rồi.
Mọi người kinh ngạc:
- Hầu gia còn từng làm chuyện như thế sao?
Một người khác cười lớn:
- Quân tư nông vốn lấy việc thực dụng làm đầu, còn chuyện gì mà không dám làm? Khi ấy chúng ta thiếu người, lại gấp rút chống tai họa trùng vu. Triệu Hưng đến quỷ cũng không định bỏ qua.
Mọi người lại cười vang.
Lâu ngày gặp lại vốn là như vậy, luôn có chuyện nói mãi không hết.
Những người ở đây phần lớn đều là người quen từ thời Thập Dương động thiên. Bọn họ từng cùng nhau huấn luyện, cùng nhau ra chiến trường.
Ngày nay ai nấy đều đã thay đổi rất nhiều, cũng có bước tiến riêng. Nhưng mỗi khi nhắc đến chuyện năm xưa, bọn họ lại như trở về những tháng ngày ở Thập Dương động thiên.
Hạ Tĩnh khoác vai Triệu Hưng:
- Đi, xuống dưới rồi nói tiếp! Cứ đứng trên trời làm gì! Xuống uống rượu! Hôm nay rượu thịt cung cấp không giới hạn!
- Hoan hô!
Mọi người lập tức reo lên.
Bọn họ hạ xuống huyện nha trong thành An Sơn.
Chẳng bao lâu sau, lại có thêm một nhóm người nghe tin chạy tới.
Trong số đó có viện trưởng Phàn Chiếu Lê của Địa Lợi viện, Lư Bang và Tả Tử Trị của Thái Sơ viện, cùng Điền Nông Chính của Địa Lợi viện.
Thiên Thời viện cũng có Cát Kình Tùng và Trình Thanh Minh đến.
Những người từng cùng nhau huấn luyện còn có Tư Nông Thời Ung, Trang Tử Thanh, Phong Nguyên và Quan Quân Dương.
Võ giả Vương Mãnh, quân y Viên Dương cũng có mặt. Ngoài ra còn vài người Triệu Hưng không gọi được tên, nhưng hắn từng gặp họ trong thời gian huấn luyện.
Dĩ nhiên, so với ngày trước, số người ở đây vẫn ít đi rất nhiều.
Phong Khâu, Hoa Chi Lâm và Thái Tấn năm xưa đều đã chết trong trận đại họa ấy, hoặc bỏ mạng giữa những cuộc chiến về sau.
Triệu Hưng chắp tay với mấy người:
- Lư sư, Điền sư, viện trưởng…
Điền Nông Chính vui vẻ nói:
- Ha ha, đừng hành lễ, mau đứng lên đi!
Lư Bang mỉm cười:
- Thiên tài của phái Bản Ngã chúng ta trở về rồi.
Phàn Chiếu Lê lập tức quát:
- Nói linh tinh! Hắn là thiên tài của phái Địa Lợi chúng ta!
- Các người tranh cái gì?
Mai Chi Nho lấy từ trong tay áo ra một cuộn trục:
- Lãnh tụ Hầu phái của ta đã ban xuống Thiên Hầu pháp lệnh. Chẳng lẽ các người không biết pháp lệnh ấy được ban ra vì Thánh tử của phái Thiên Thời ta sao?
Lư Bang bật cười:
- Mặt dày thật.
Điền Nông Chính và Phàn Chiếu Lê cũng khinh bỉ:
- Ngươi đúng là không biết xấu hổ!
Mai Chi Nho lắc đầu, vênh mặt:
- Lư huynh mắng thì thôi. Nhưng từ khi Luận Vạn Vật Bản Ngã của phái Bản Ngã xuất thế, còn ai có thể tranh phong? Còn phái Địa Lợi của các người thì có gì đáng kể? Tự nhiên chen vào góp vui làm gì?
Điền Nông Chính và Phàn Chiếu Lê nhất thời cứng họng.
Tả Tử Trị đứng bên cạnh nói:
- Mai huynh, phái Thiên Thời các huynh đừng vội đắc ý. Hãy nhìn sang bên cạnh mình đi.
Mai Chi Nho lập tức im bặt.
Bởi bên cạnh hắn đang đứng Trình Thanh Minh và Cát Kình Tùng.
Hai người hung hăng trừng mắt với Tả Tử Trị.
Đã hơn mười năm rồi, sao vẫn còn người nhắc đến chuyện đó?
Trình Thanh Minh mắng:
- Tả Tử Trị, ngươi muốn chết à?
Cát Kình Tùng cười khẩy:
- Kinh Âm Dương Bản Ngã của ngươi tu hành chẳng ra sao, nhưng cái giọng châm chọc người khác thì lại luyện đến mức đại thành rồi đấy!
Hai người không hề khách sáo đáp trả.
Những người xung quanh lập tức cười vang.
Trong thời loạn lạc, một cuộc hội ngộ sau bao năm xa cách quả thật là chuyện đáng vui mừng nhất.
Hạ Tĩnh gọi phần lớn người quen năm xưa đến đây, cùng nhau ăn uống một bữa thỏa thích.
Đến tận đêm khuya, sau khi mọi người đã uống say vui hết mức, hắn mới cho những người khác lui xuống, rồi tìm riêng Triệu Hưng nói chuyện.
- Triệu huynh, huynh định làm chuyện nhỏ gì vậy? Trong tay ta có bốn mươi vạn người để dùng. Đó đều là quân các bộ còn sót lại từ Thập Dương động thiên, cùng quan viên các cấp của Dương Thành.
Triệu Hưng sửng sốt:
- Nhiều đến vậy sao?
- Năm xưa huynh nói Lương vương sẽ phản, sau khi từ Đông Hải trở về, ta lập tức chuẩn bị cho chuyện này.
Hạ Tĩnh nói tiếp:
- Trước khi biến cố xảy ra, ta đã âm thầm chuyển đi một lượng lớn nhân lực.
- Sau biến cố, Thập Dương động thiên xảy ra bạo loạn. Hắc Long quân của Lương vương tiến hành thanh trừng quy mô lớn. Những người không chịu phục tùng hắn, kẻ chết, người chạy.
- Trong ba tháng sau đó, ta lại đi khắp nơi thu nạp tàn quân. Bây giờ còn bốn mươi vạn người, là vì triều đình đã điều đi một phần rồi đấy.
Triệu Hưng gật đầu.
Trước đó, Hạ Tĩnh đã được tạm thời ban chức tướng quân Kỵ binh diệt giặc chính tứ phẩm thượng, kiêm chức Tứ cấp Thượng Ngu sứ của Ty Thượng Ngu ba phủ phía nam Bình Hải châu.
Xét về phẩm cấp, Hạ Tĩnh và Triệu Hưng ngang nhau, quyền hạn cũng không chênh lệch bao nhiêu.
Triệu Hưng suy nghĩ một lúc, chấm ngón tay vào rượu rồi viết lên mặt bàn hai chữ: cứu dân.
Hạ Tĩnh nhìn hai chữ ấy, trầm ngâm:
- Cứu dân?
- Cụ thể phải làm thế nào?
- Thứ nhất, xây nơi tránh nạn. Phải cách xa thành trì, tốt nhất là xây dưới lòng đất, trong vùng núi, hoặc những nơi không có giá trị chiến lược.
- Thứ hai, xây các trạm thuốc men và kho lương lưu động. Chuẩn bị thật nhiều pháp y chống rét tránh nóng, cùng một lượng lớn lương thực.
Hạ Tĩnh hơi khó hiểu:
- Vậy chẳng phải ta đang làm việc của Ty Vận Chuyển, Ty Y Dược và Ty Công hay sao?
- Hơn nữa, muốn cứu người thì cuối cùng vẫn phải đánh thành chiếm đất chứ?
Triệu Hưng lắc đầu:
- Huynh cho rằng dân thường đều sống trong thành à? Ta không cần huynh cứu đám quan lại quyền quý trong thành. Người ta muốn cứu là dân chúng nơi thôn dã. Huynh phải hiểu rõ điều này.
Hạ Tĩnh xuất thân quý tộc, trong tư tưởng vẫn mang sẵn thành kiến từ dòng dõi.
Trong mắt hắn, hàn môn là những thế gia có thế lực và gia thế thấp hơn, cũng gọi là thứ tộc, chứ không phải tầng lớp dân nghèo.
Thấy Hạ Tĩnh gật gù như đã hiểu mà thật ra vẫn chưa thông, Triệu Hưng hỏi:
- Hạ huynh, trong mắt huynh, người thế nào mới được xem là dân thường?
Hạ Tĩnh gãi đầu:
- Ở lãnh địa của phụ thân ta, mức sống thấp nhất của dân chịu thuế là trong thành có năm mẫu đất làm nhà, bên ngoài có hai mươi mẫu ruộng tốt.
Triệu Hưng im lặng nhìn hắn.
Thấy sắc mặt Triệu Hưng không ổn, Hạ Tĩnh lập tức khiêm tốn hỏi:
- Triệu huynh, chẳng lẽ ta lại hiểu sai rồi?
Triệu Hưng thở dài:
- Hạ huynh, lời ấy khiến người nghe đau lòng, người nghe xong cũng rơi lệ mất.
- Nhưng cũng chẳng trách huynh được. Trong mắt huynh, người nghèo đến đâu thì cũng chỉ nghèo đến mức ấy thôi.
Triệu Hưng khoát tay:
- Lãnh địa nhà huynh sản vật dồi dào, bá phụ lại rộng lượng thương dân. Người dân ở đó quả thật sống tốt hơn nhiều. Nhưng khắp thiên hạ không phải nơi nào cũng được như vậy.
- Huynh từng thấy dân chúng Nam Hoang rồi chứ?
Hạ Tĩnh nhớ đến những người dân dị tộc Nam Hoang trong các bộ lạc, quần áo rách rưới, mặt mày vàng vọt, lập tức bừng tỉnh:
- À, ta hiểu rồi.
- Nhưng nếu làm như vậy, chưa chắc cả bốn mươi vạn người của ta đều chịu đi theo.
Hạ Tĩnh nói:
- Quân đội sinh ra là để đánh trận. Quân đội nhà nào lại chuyên đi cứu dân nơi thôn dã? Huống hồ còn phải chống lũ cứu nạn, làm những việc nặng nhọc ấy nữa.
- Thứ nhất không có chiến công, thứ hai không được thăng phẩm, thứ ba không có tiền bạc ban thưởng.
Triệu Hưng ngẩn người:
- Ta từng thấy một đội quân có lý tưởng và niềm tin. Họ sẽ làm những việc ấy.
Hạ Tĩnh tò mò hỏi:
- Ở đâu?
- Không ở nơi này.
Triệu Hưng phẩy tay:
- Tóm lại, ta muốn huynh sàng lọc những người chịu đi theo chúng ta làm việc này.
- Huynh phải nói rõ với họ rằng mục đích của chúng ta không phải đánh trận lập công. Chúng ta cũng không làm giàu được, trong thời gian ngắn càng không thể thăng quan.
Hạ Tĩnh tỏ vẻ khó xử:
- Cách làm của huynh khác hẳn những đội quân ta từng biết. Ta không biết mình có thể điều động được bao nhiêu người. Ưu điểm duy nhất là mức độ nguy hiểm thấp hơn.
Nếu không đánh thành chiếm đất, chỉ cố gắng hết sức cứu chữa những dân thường mà Triệu Hưng nói đến, lực cản gặp phải sẽ rất nhỏ.
Lương vương chỉ phản loạn, chứ chưa phát điên.
Đại quân của hắn đều là tinh nhuệ. Chỉ cần không phải nơi trọng yếu về chiến lược, hắn sẽ không phái người đến giết hoặc bắt lính những dân chúng ấy.
Giữ họ lại thì có ích gì?
Những người ấy thậm chí còn chưa đạt phẩm cấp, chẳng giúp được gì mà chỉ trở thành gánh nặng.
Dĩ nhiên, nếu Lương vương thật sự giành được thiên hạ, cách cai trị sau đó sẽ là chuyện khác.
Những nhân vật như Triệu Hưng cũng từng từ những thị trấn thôn quê mà bước ra.
Nhưng lúc này, Lương vương chắc chắn không cần đến hạng người ấy.
Triệu Hưng nói:
- Ngươi cứ cố hết sức là được.
Hạ Tướng gật đầu:
- Vậy ta nên xin triều đình cấp bao nhiêu vật tư?
Triệu Hưng lắc đầu:
- Ta định không lấy kinh phí từ triều đình. Ít nhất, phần lớn tiền bạc không thể do triều đình bỏ ra. Nếu không, chuyện này vẫn bị tính là chi quân phí, chúng ta sẽ lại khiến người ta chú ý.
- Đây đâu phải con số nhỏ. Tiền từ đâu mà có?
Hạ Tướng cau mày.
Triệu Hưng cười:
- Những gia tộc mà ngươi vừa nhắc đến ấy. Bọn họ có thừa tiền.
- Ý ngươi là…
- Hạ huynh, ngươi giao du rộng, ta cũng quen biết không ít người. Nay thiên hạ đang loạn, chúng ta không bảo họ góp sức, không bắt họ ra chiến trường liều mạng. Chỉ xin họ bỏ ra ít tiền làm việc thiện, chẳng lẽ lại lấy mất mạng họ hay sao?
- Ngươi muốn cướp của hào tộc địa phương?
- Là quyên tiền làm việc thiện.
- Thế chẳng phải vẫn là cướp sao?
Nhìn đôi mắt trong veo của Hạ Tướng, Triệu Hưng thẳng lưng, hít sâu một hơi.
- Thôi vậy. Chuyện tiền bạc ta không nói với ngươi nữa. Ta sẽ bàn với Điền hầu. Đến lúc ấy, ngươi cứ theo kế hoạch mà liên lạc với mọi người.
- Được.
Hạ Tướng gật đầu.
- Bước thứ ba là nhân lực. Chúng ta phải điều động rất nhiều cơ quan sư, y sư, nữ thợ dệt và tư nông.
Triệu Hưng nói:
- Tư nông thì dễ rồi, ta sẽ đi gọi người. Nhưng số y sư và cơ quan sư bên ngươi vẫn quá ít.
- Cứ giao cho ta.
Hạ Tướng nói:
- Bách Binh đạo viện, Mặc Thủ học cung, Thiên Y đạo viện, Tế Thế học cung, Hợp La đạo viện, Thần Chức học phủ, cả phụ thân và dượng ta đều quen biết nhiều người. Muốn mời được không ít cao thủ cũng chẳng khó.
- Không cần cao thủ quá mạnh.
Triệu Hưng nói:
- Chúng ta không chiếm cứ nơi trọng yếu về chiến lược, cần cao thủ làm gì? Lần này chỉ cần đông người, không cần quá coi trọng phẩm cấp.
Hạ Tướng nghĩ ngợi rồi nói:
- Cũng đúng. Dân thường chưa nhập phẩm, dù chỉ là y sư Cửu phẩm cũng đủ cứu chữa rồi.
- Pháp y có thể chống rét năm cấp, chỉ cần một nhóm nữ thợ dệt Thất phẩm là dệt được.
- Rời xa vùng tranh chấp, thiên tai nhân họa cần chống đỡ cũng giảm đi rất nhiều. Triệu huynh, có phải đạo lý là vậy không?
Triệu Hưng vỗ tay cười:
- Chính là như thế.
Hạ Tướng đưa tay phất một cái. Một tấm bản đồ hiện ra, trải rộng trước mặt. Hắn cúi xuống nhìn thật kỹ rồi cảm khái:
- Chỉ nhìn bản đồ, ta không biết ngoài thực địa lại rộng đến thế.
- Nếu vậy, chẳng phải nơi nào cũng thích hợp cho người ta sinh sống hay sao?
Triệu Hưng cũng chỉ tay lên bản đồ:
- Đúng vậy. Không xét đến chuyện nơi ở có đủ điều kiện hay không, chỉ nói trên lý thuyết, toàn bộ dân chúng Bình Hải châu, xếp thành hàng ngang hàng dọc, cũng có thể dồn hết vào huyện An Sơn.
- Nhưng sức mạnh mỗi người khác nhau, không gian cần dùng cũng khác nhau.
- Với thân pháp Thanh Long của Hạ huynh, tùy tiện động thân một cái đã vượt hơn một nghìn mét. Nếu ngươi sống trong một trang viên nhỏ, hẳn sẽ cảm thấy chật chội. Chỉ cần cử động tay chân đôi chút, e rằng đã đụng phải tường.
- Người càng mạnh thì càng cần không gian rộng lớn.
- Vì sao cường giả thường phải chiếm giữ những vùng đất phong rộng đến vậy? Bởi đó là nhu cầu căn bản trong bốn việc ăn, mặc, ở và đi lại.
Triệu Hưng vừa nói vừa đưa ngón tay lướt dọc theo bản đồ:
- Cường giả luôn bước ra từ kẻ yếu. Việc chúng ta làm hôm nay có thể bị rất nhiều người xem nhẹ, cũng có thể có người chẳng buồn để mắt tới.
- Nhưng Hạ huynh, vài năm nữa, hoặc vài chục năm nữa, ngươi sẽ hiểu việc làm hôm nay của chúng ta có công đức lớn đến nhường nào!
Nhìn vẻ hăm hở của Triệu Hưng, Hạ Tướng bất giác ngẩn ra:
- Triệu huynh, ngươi vừa thi pháp phải không?
- Không. Sao vậy?
- Sao ta cứ cảm thấy cả người ngươi đang phát sáng?
- Ha ha ha!
Từ ngày mười bốn tháng Năm, phân thân của Triệu Hưng ở quận Lâm Hải bắt đầu cùng Hạ Tướng thực hiện kế hoạch bảo hộ dân chúng.
Quyết định này nhận được sự ủng hộ hết lòng của Lư Bang, Điền hầu và Phàn Chiếu Lê.
Điền hầu thậm chí còn tuyên bố, sẵn sàng bỏ ra tám phần gia sản để làm việc ấy.
Ban đầu, các tư nông thuộc phái Thiên Thời như Mai, Cát, Trình… vẫn chưa hiểu. Nhưng sau khi được Triệu Hưng thuyết phục, bọn họ nhanh chóng đổi ý.
Biết làm sao được, ai bảo hắn là Thánh tử của bọn họ?
Chẳng phải chỉ là đốt tiền thôi sao?
Thánh tử đã mở lời, đừng nói đốt tiền, có đốt cả bọn họ cũng chẳng thành vấn đề!
Triệu Hưng có uy tín rất cao trong giới tư nông. Vì vậy, hắn chẳng tốn bao công sức đã thống nhất được suy nghĩ của mọi người.
Ngay cả các tướng lĩnh trong quân như Vệ Uyên, Lý Nguyên Chân, vốn quen đánh trận lập công, lúc đầu cũng có phần chống đối. Nhưng sau cùng, bọn họ vẫn làm theo Triệu Hưng.
Chỉ là còn rất nhiều quân sĩ không hiểu.
Thứ nhất, bọn họ không hiểu vì sao một đội quân tinh nhuệ lại phải đi làm công việc vừa tốn sức vừa chẳng được lợi này.
Lập công lĩnh thưởng, cứu một mạng người, sao nhanh bằng chém một cái đầu quân địch?
Thứ hai, bọn họ không hiểu chế độ không công, không thưởng do Triệu Hưng đặt ra. Ngay cả việc Điền hầu và những người khác tự bỏ tiền ra làm, bọn họ cũng không sao hiểu nổi.
Triệu Hưng không ép buộc.
Đã không cùng chí hướng thì chẳng cần chung đường. Dù sao cũng là huynh đệ một phen, ai muốn tìm nơi khác thì cứ đi, hắn không ngăn cản.
Triệu Hưng bảo Hạ Tướng báo lên quan trên của Binh giới, điều những quân quan không muốn tham gia đến nơi khác.
Sau khi thống nhất cách làm, những người còn lại bắt đầu triển khai kế hoạch cụ thể.
Không chỉ bên Lâm Hải khởi động, các phân thân khác của Triệu Hưng cũng chẳng nhàn rỗi.
Bình Hải châu, phủ Thiên Duyệt, quận Ngọc Lung.
Trăng sáng treo cao, ánh trăng trong trẻo phủ xuống khu sân cổ kính.
Một nữ tử mặc áo vải mộc mạc ngồi ngay ngắn trước cây đàn tranh chạm trổ tinh xảo. Dáng nàng thanh nhã, trông như một bức tranh sống động.
Ngón tay nàng khẽ lướt trên dây đàn, mềm mại như làn gió xuân chạm vào cánh hoa. Theo mỗi lần đầu ngón tay lay động, tiếng đàn trong trẻo vang lên, tựa dòng suối róc rách, lập tức xua tan vẻ tĩnh mịch của đêm sâu.
Âm thanh trong vắt như tiếng trời, nhẹ nhàng mà tinh khiết, như có thể xuyên thẳng vào linh hồn người nghe.
Nữ tử hơi cúi đầu, vẻ mặt chăm chú và bình thản. Ngón tay nàng nhảy múa trên dây đàn, lúc nhẹ nhàng như én lượn, lúc mạnh mẽ như sấm vang. Mỗi lần gảy đàn đều phảng phất mang theo một sức mạnh thần bí, khiến người ta bất giác chìm đắm.
Đến khi nàng tấu lên khúc nhạc hào hùng, tiếng đàn trút xuống như cuồng phong mưa dữ, đầy sức mạnh và nhiệt huyết.
Dây đàn rung bần bật dưới tay nàng, phát ra từng tiếng leng keng như binh khí va chạm, tựa đang kể lại một trận chiến long trời lở đất. Nhịp điệu dồn dập khiến tim người nghe cũng đập nhanh theo, như thể đang thực sự đứng giữa chiến trường khốc liệt.
- Dừng lại!
Một tiếng quát trầm đột ngột cắt ngang tiếng đàn.
Đối diện án đàn, một viên tướng thân mặc giáp vàng, thân hình vạm vỡ đứng phắt dậy.
Hắn từng bước tiến về phía nữ tử, dáng vẻ chẳng khác nào mãnh hổ đang nhìn chằm chằm con thỏ trắng.
Đến gần, hắn gác một chân lên án đàn, cúi xuống nhìn nữ nhạc sư.
- Cầm khúc chiến trận, mấy ngày nay ta nghe đến phát chán rồi. Trận đánh ta trải qua cũng đủ nhiều. Đổi sang khúc khác đi.
Viên tướng giáp xanh nói.
Cầm Thanh Thu nói:
- Hầu gia, ta là nhạc sư của Nhạc phủ, không phải kỹ nữ trong chốn thanh lâu.
- Ồ? Thế thì sao?
Viên tướng giáp xanh vừa nói vừa dùng chân xê dịch, đá những bản nhạc đặt bên cạnh cây đàn tranh.
Cầm Thanh Thu nhìn mà xót xa, nhưng vẫn đáp:
- Hầu gia, ta chỉ biết tấu chiến khúc, không biết những điệu nhạc dâm dật.
- Bản hầu cứ muốn ngươi đàn đấy.
Viên tướng giáp xanh cười như không cười, ánh mắt liếc về phía sau Cầm Thanh Thu.
Trong mắt nàng lóe lên vẻ tủi nhục. Nhưng sau lưng nàng còn rất nhiều tỷ muội trong Nhạc phủ.
Nếu không vì những người ấy, nàng đã sớm tìm đến cái chết, cần gì phải chịu nhục trước tên tướng man rợ này?
- Không muốn đàn sao?
Viên tướng lấy từ trong ngực ra một quyển nhạc phổ.
- Không đàn, ngươi sẽ hối hận đấy.
Cầm Thanh Thu nhìn những quân sĩ xung quanh, hít sâu một hơi rồi đặt tay lên dây đàn.
- Ta mới học ngay bây giờ, đàn không hay, mong Hầu gia thứ lỗi.
Nói rồi, nàng bắt đầu gảy một khúc nhạc đứt quãng.
Tiếng đàn chậm rãi lan ra. Những quân sĩ xung quanh lập tức chìm đắm, hơi thở cũng trở nên dồn dập.
Sắc mặt Cầm Thanh Thu biến đổi. Nàng nhận ra đây lại là một khúc nhạc dâm dục, có tác dụng khơi dậy dục vọng.
- Ngươi…
Nàng lập tức dừng tay.
- Ha ha ha, đàn rồi thì ngươi càng hối hận hơn thôi!
Viên tướng giáp xanh cười lớn, nhanh chóng cởi áo giáp, gương mặt lộ vẻ dâm tà rồi chộp về phía Cầm Thanh Thu.
Phía sau nàng, đám quân sĩ cũng gào rú xông về phía những nhạc sư đang bị giam giữ.
Những nhạc sư ấy vốn không phải hoàn toàn không có sức đánh trả. Nhưng lúc này, pháp lực của họ đã bị phong bế, trong tay lại không có nhạc cụ. Làm sao chống nổi đám quân sĩ hung hãn như lang sói?
Mắt thấy sắp bị làm nhục, Cầm Thanh Thu dùng ngón cái móc vào dây đàn. Một ngọn lửa từ đầu ngón tay bùng lên, men theo dây đàn lan ra.
Nàng không định giết địch, mà muốn tự thiêu.
Nàng biết mình không đánh lại tên kia, không muốn sau khi chết, thân thể mình vẫn bị làm nhục.
- Khúc Thiêu Trời tự bốc lửa ư? Ha ha ha, ngươi đốt nổi sao?
Chân phải của viên tướng giáp xanh nhanh như bóng chớp. Hắn đá văng cây đàn tranh, rồi bồi thêm một cú, giẫm thẳng vào bụng dưới của Cầm Thanh Thu.
Một cú giẫm dập tắt ngọn lửa, cũng dập tắt luôn hy vọng của nàng.
Nàng đã không còn sức chống cự.
Thế nhưng chờ một lúc lâu, tên tướng man rợ kia vẫn không tiếp tục hành động.
Tiếng khóc la phía sau cũng chẳng biết đã biến mất từ khi nào.
Cầm Thanh Thu ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy giữa trán viên tướng kia xuất hiện một lỗ thủng đen ngòm.
Từng tia sấm điện đang lan ra quanh miệng vết thương.
Bịch!
Viên tướng man rợ cảnh giới Ngũ phẩm đỉnh phong nặng nề ngã xuống đất.
Sau thân hình đổ gục của hắn, một nam tử mặc pháp y màu bạc ánh trăng, đầu đội nón rộng vành bước ra.
Một tay người này cầm bút, tay kia cầm bảng. Hắn viết vài nét, rồi ngậm bút vào miệng, lấy ra một chiếc gương soi thử.
- Cầm Thanh Thu ở quận Ngọc Lung, người nhà họ Cầm ở Nam Long phải không? Tổ tiên cô từng có cây Thiên Ma cầm?
Cầm Thanh Thu mơ màng đứng dậy. Nàng không tự mình đứng lên, mà được một luồng gió nâng khỏi mặt đất.
- Là… là ta. Xin hỏi đại nhân là ai?
Đến lúc này, nàng mới hiểu mình đã được cứu. Hy vọng lại trở về trong mắt nàng.
- Tư nông quan Triệu Hưng, người quận Nam Dương thuộc phủ Đại Nguyên. Ta vừa hay đi ngang qua đây.
Triệu Hưng tháo nón rộng vành, đặt trước ngực rồi hơi cúi người. Trong lúc nói, hắn tiện tay giết chết một tên tướng man rợ còn chưa tắt thở đang bò trên mặt đất.
Quả thật vô cùng tao nhã.
Gương mặt tuấn tú ấy in sâu vào đầu Cầm Thanh Thu, khiến nàng không sao quên được.
Nàng theo bản năng phủi lại vạt áo, làm lễ rồi nói:
- Triệu… Triệu đại nhân, ta… ta chính là Cầm Thanh Thu. Tổ tiên ta quả thật từng có cây Thiên Ma cầm, nhưng cây đàn ấy đã thất truyền, không biết lưu lạc nơi đâu…
- Cầm cô nương, đừng căng thẳng.
Triệu Hưng mỉm cười.
- Đám phản tặc ở quận Ngọc Lung đã bị ta giải quyết hết. Cô nương có thể dẫn các nàng đi về phía bắc tìm đường sống.
Trong mắt Triệu Hưng, cột trụ vận số của Cầm Thanh Thu lúc này đã tan bớt khí đen, chuyển thành màu đỏ nhạt.
Vận thế nằm ở phương bắc, vậy nên hắn bảo nàng đi về phía ấy cầu sinh.
- Ta đã chuẩn bị một chiếc phi thuyền cho các cô. À, cô biết lái Huyết Ảnh phi thuyền chứ?
Triệu Hưng hỏi.
- Biết, ta biết. Kiểu nào ta cũng lái được!
Cầm Thanh Thu bộc phát khát vọng sống mãnh liệt.
- Tốt lắm.
Triệu Hưng mỉm cười.
- Sống sót qua đại nạn là nhờ tổ tiên tích phúc. Cầm cô nương, nếu trốn thoát được, nhớ thường xuyên về nhà thăm nom, thắp hương bái tế tổ tiên.
- Gì cơ?
Cầm Thanh Thu không hiểu vì sao cuộc trò chuyện đột nhiên chuyển sang chuyện huyền bí như vậy.
- À… được, được.
- E rằng quân truy đuổi còn kéo đến. Ta không nói nhiều với cô nương nữa.
Triệu Hưng giơ tay. Chiếc phi thuyền bên ngoài chậm rãi hạ xuống.
- Cầm cô nương, mau dẫn mọi người đi đi.
- Vâng.
Cầm Thanh Thu lập tức gọi các tỷ muội lên thuyền. Theo chỉ dẫn của Triệu Hưng, họ bay về phía bắc.
Nhìn chiếc phi thuyền khuất dần, Triệu Hưng khẽ mỉm cười:
- Chuông sớm trống chiều, Thiên Ma cầm. Người sở hữu một trong ba thần khí lớn của giới nhạc sư đã xuất hiện.
Hắn bấm đốt ngón tay tính thử, phát hiện có không ít người đang chạy về nơi này. Phân thân ấy lập tức rời đi.
Quận Thiên Thương, trong một tòa hầu phủ.
- Nhảy đi! Nhảy nhanh hơn nữa!
Một thanh niên mặc hoa phục, tay cầm roi, hưng phấn gào lên.
Trước mặt hắn là một núi đao, xung quanh lửa cháy ngút trời.
- Đại nhân, xin tha mạng!
Giữa biển lửa núi đao, các vũ sư liên tiếp ngã xuống.
- Tha mạng thế nào được?
Thanh niên mặc hoa phục cười dữ tợn.
- Nghe nói điệu múa Núi Đao và điệu múa Biển Lửa là bài học bắt buộc của vũ sư Thất phẩm. Chỉ cần múa lên, có thể khiến kẻ địch rơi vào cảnh núi đao biển lửa.
- Chẳng lẽ các ngươi chỉ là một đám ăn không ngồi rồi, lũ vô dụng hay sao?
- Ngày thường các ngươi kiếm được nhiều tiền hơn quan này hàng chục lần. Sao có thể lười biếng như vậy?
Một vũ sư run rẩy nói:
- Nhưng… nhưng đại nhân, chúng ta là nhạc sư mà!
- Ta không cần biết. Các ngươi đều đáng chết! Nhảy cho ta!
Thanh niên mặc hoa phục quất roi liên hồi. Mỗi lần roi vung lên, biển lửa lại nóng thêm một phần.
Mắt thấy những người ấy sắp chết cháy, đột nhiên…
Phù!
Toàn bộ lửa cháy dữ dội bỗng tắt ngấm. Núi đao cũng sụp xuống trong chớp mắt.
- Ai?
Thanh niên mặc hoa phục nhận ra có điều chẳng lành. Hắn lập tức ném cây roi lửa, chạy thục mạng về phía hòn non bộ.
Phập!
Một tia sấm xuyên thủng người hắn.
Thân hình Triệu Hưng đáp xuống giữa những người sống sót, rồi bắt đầu hỏi chuyện:
- Ở đây có một vũ sư tên Lâm Dật Thần phải không?
Một người lập tức đáp:
- Có, là người từ nơi khác đến.
- Vậy sao? Hắn mới đăng ký vào đây được ba tháng?
- Đúng vậy.
- Tốt lắm. Người đâu?
- Bị giam dưới ngục đất.
- Được rồi. Các ngươi cứ chờ ở đây.
Triệu Hưng lập tức độn xuống lòng đất, bắt đầu tìm kiếm nhà ngục.
Quả nhiên, trong một gian lao, hắn tìm thấy người mình cần.
Lúc này, một nam tử đang nhảy múa trong phòng giam.
Dù trên người hắn là bộ áo tù, xung quanh bẩn thỉu nhếch nhác, Triệu Hưng vẫn cảm thấy điệu múa của hắn tràn đầy vẻ đẹp. Tựa như nguyên khí đất trời cũng đang cùng hắn nhảy múa.
Nguyên khí có thể sử dụng trong nhà ngục không nhiều. Triệu Hưng cẩn thận quan sát, phát hiện Lâm Dật Thần đã phá gần xong ô cửa phong bế của một pháp trận.
Nghe tiếng bước chân, Lâm Dật Thần lập tức ngừng múa khi Triệu Hưng xuất hiện. Hắn khôi phục mọi thứ xung quanh về nguyên trạng.
Lách tách…
Triệu Hưng xuất hiện trước cửa lao. Hắn chỉ khẽ điểm một ngón tay, ổ khóa pháp trận đã vỡ tan.
Lâm Dật Thần tò mò nhìn Triệu Hưng:
- Ngươi là ai?
- Đừng lắm lời, mau đi thôi.
Triệu Hưng lập tức gọi gió, cuốn Lâm Dật Thần lên.
Bị vác trên không, Lâm Dật Thần vẫn không ngừng lải nhải:
- Các hạ dường như rất hiểu ta, biết ta thích nói nhiều. Lạ thật đấy. Ta đến từ Thiên Ung châu, ở đây đâu có người quen.
- Ta du ngoạn nơi này từ một năm trước. Vì hết tiền lộ phí nên mới gia nhập Nhạc phủ ở đây. Nếu có người quen, sao ta lại rơi vào cảnh khốn cùng thế này?
- Khụ, các hạ có thể đổi hướng luồng gió mạnh một chút không? Ta đã va vào xà nhà mấy lần rồi.
Triệu Hưng thầm mắng:
Đáng lẽ lão tử không nên cứu tên này!
Nói ra thì hắn quả thật rất quen Lâm Dật Thần. Kiếp trước, khi làm nhiệm vụ, hắn từng cùng người này kết bạn đi qua không ít phủ quận.
Khi ấy Triệu Hưng cứ tưởng có thể nhận được nhiệm vụ gì đó từ Lâm Dật Thần.
Sau một thời gian qua lại, hắn mới phát hiện người này chẳng có nhiệm vụ nào đáng làm.
Không có nhiệm vụ cũng chẳng sao, vậy thì bồi đắp chút thiện cảm là được. Khi đó, Triệu Hưng vẫn cảm thấy vị vũ sư nay đây mai đó này có gì đó đặc biệt.
Kết quả, lợi lộc chẳng kiếm được gì, chỉ theo hắn chịu đói, lại còn khiến Triệu lão gia tốn không ít tiền nuôi hắn.
- Ta tên Triệu Hưng, là tuần tra sứ của năm phủ. Đi ngang qua đây, ta tiện tay cứu ngươi ra.
- Ồ? Tuần tra sứ của năm phủ ư? Không biết Triệu đại nhân có thể…
- Không được!
- Đại nhân, ta còn chưa nói gì mà.
- Ngươi câm miệng cho ta!
Nhớ lại những chuyện ở kiếp trước, Triệu Hưng suýt bị tên lắm mồm này làm cho phát điên.
Hắn dứt khoát thi triển pháp Thuốc Ngủ, khiến Lâm Dật Thần chìm vào giấc ngủ.
- Các ngươi có thể chạy về phía nam. Ở đó có quân triều đình đóng giữ. Cứ đi theo tuyến đường này, các ngươi sẽ không bị ai ngăn cản.
- Vâng, đa tạ Triệu đại nhân.
- Giang Ly bị bỏ giữa ngõ nghèo,
- Dây rau mọc phủ mái theo phía đông.
- Lương vương làm loạn đạo trời,
- Sớm muộn cũng bại, rã rời tan hoang!
Tại quận Nhược, trong một nhà ngục kiên cố, một lễ tu trẻ tuổi đang lớn tiếng chửi mắng.
- Giang Ly, ngươi có thể yên một chút không? Chửi suốt bảy ngày rồi!
Võ giả ở gian lao bên cạnh ngoáy ngoáy lỗ tai.
- Bên ngoài có nghe thấy đâu, chỉ khiến chúng ta nhức đầu.
- Ta chỉ muốn được chết trong yên tĩnh, không được sao?
Giang Ly đột ngột áp đầu sát song sắt:
- Triệu Hà, ngươi không được mất ý chí! Tà không thể thắng chính, sớm muộn chúng ta cũng sẽ thoát khỏi đây!
- Được được được, Giang đại nhân nói gì cũng đúng.
Triệu Hà đáp lấy lệ.
- Hạ quan chỉ muốn nghỉ ngơi một lát, có được không?
Thấy bên kia không còn tiếng động, Triệu Hà nằm xuống chiếc giường cỏ, định chợp mắt.
Nhưng chẳng bao lâu sau, tiếng ngâm nga lại vang lên.
- Hút tinh hoa, nhả khí đục,
- Giữa đời ngang trái chẳng khuất phục ai.
- Mang trường kiếm, cầm cung vua,
- Đầu lìa khỏi cổ, lòng chưa đổi thay.
Triệu Hà thở dài, đưa tay bịt tai.
Đúng lúc ấy, một tiếng động vang lên. Ổ khóa bị phá.
Cửa lao cũng bất ngờ mở toang.
- Hử?
Triệu Hà lập tức ngồi bật dậy.
Nhưng hắn hết sức cẩn thận, không hành động ngay mà dựng tai lắng nghe.
Chẳng bao lâu, Giang Ly đột nhiên đẩy cửa bước ra.
- Triệu Hà, ngươi xem! Ta đã bảo rồi, nhất định sẽ có người đến cứu chúng ta!
- Đi thôi! Theo bản quan giết khỏi nhà lao này, trả lại bầu trời trong sáng cho quận Nhược!
Thời gian trôi qua, các phân thân của Triệu Hưng không ngừng hoạt động khắp Bình Hải châu.
Phân thân sở hữu pháp môn thượng thừa, thực lực sánh ngang Tam phẩm, vậy mà đem đi cứu những người cấp thấp và trung bình, chẳng khác nào dùng dao mổ trâu giết gà.
Nếu nhân lực triều đình bị lãng phí như thế, phe Lương vương hẳn đã cười đến tỉnh ngủ.
Quan viên cấp thấp và trung cấp nhiều đến mức nào chứ?
Cho dù có nhận ra chuyện này, bọn chúng cũng chẳng buồn quản, trái lại còn vui vẻ nhìn triều đình tiếp tục làm như vậy.
Dĩ nhiên, hành động của Triệu Hưng thực ra không gây chú ý. Chẳng ai liên kết những chuyện ấy với nhau.
Bình Hải châu quá rộng lớn. Chỉ riêng một phủ đã tương đương diện tích cả Trái Đất.
Cứu được vài người cấp thấp, trung bình thì có gì đáng để mắt?
Cho dù không xảy ra chiến tranh, mỗi ngày vẫn có rất nhiều người chết đi, cũng có rất nhiều người chào đời.
Thiếu đi vài người hay thêm vào vài người, chẳng khác nào biển cả mất một giọt nước, không thể gây ra ảnh hưởng gì.
Ngược lại, chiến dịch cứu dân do Triệu Hưng khởi xướng từ quận Lâm Hải đã khiến cả hai phe địch ta chú ý.
Bởi Triệu Hưng, Hạ Tướng và nhóm người ở Thập Dương động thiên bắt đầu dựa vào các mối quan hệ của mình để mở rộng quy mô hành động.
- Ô huynh, ta nghe nói thương hội trong gia tộc huynh đang có sẵn rất nhiều cỏ họ Hoàng. Huynh có thể viện trợ cho ta một ít không?
- Không thành vấn đề. Ngươi cần bao nhiêu?
- Hai mươi ức gánh.
- Được.
- Lưu huynh, lần trước từ biệt ở động thiên, không ngờ huynh đã trở thành bác sĩ trị kinh của Bách Binh đạo viện.
- Đệ hiện cần một nhóm thợ rèn am hiểu “Pháp Đúc Cương Sơn”. Không biết huynh có thể giới thiệu vài người tài cho đệ không?
- Ta là Điền. Lập tức chuyển toàn bộ tiền bạc trong gia tộc có thể điều động đến bảy đại quận Thượng Đảng, Trinh Tầm, Ô Sơn, Thiên Hành, Cửu Giang, Thiên Hùng và Bách Quách.
- Ngoài ra, cho toàn bộ lâu thuyền thương mại cất cánh, đồng thời điều đến bảy đại quận ấy.
- Liên lạc với một trăm ba mươi sáu vị hầu tước, chín vị vương tước và ba vị quốc công. Cứ nói Điền ta muốn nhờ họ giúp một việc. Không cần họ liều mạng, chỉ cần bỏ ra ít tiền bạc hoặc tài nguyên là được!
- Nguyên hầu, hiện tại Thương Lạc học cung có mười bốn nghìn ba trăm năm mươi bảy tư nông dưới Tam phẩm, cùng hơn mười một nghìn tư nông Lục phẩm và Ngũ phẩm. Bọn họ đều có thể nghe ngài điều động.
- Thần An, hai vạn chiếc thuyền đi dưới đất có đủ dùng không? Nếu không đủ, có thể điều thêm từ phân viện Nguyệt Nhã, nhưng phải mất nửa tháng… Không, bảy ngày là được.
- Ngươi muốn đào nơi tránh nạn dưới lòng đất ư? Cần cấp bậc nào?
- Mới cấp năm thôi sao? Vậy thì phân viện trưởng như ta có thể tự quyết định rồi.
Đến tháng Tám năm Cảnh Tân, quy mô của chiến dịch đã không còn nhỏ.
Nhưng đúng như Triệu Hưng dự đoán ban đầu, chỉ cần mục tiêu không phải nơi trọng yếu về chiến lược, chỉ cần số người được cứu không ảnh hưởng đến cục diện lớn, lực cản sẽ giảm đi rất nhiều.
Dân quê mùa sinh ra như cỏ dại. Một lứa mọc lên, chỉ mười bốn, mười lăm năm sau đã có lứa khác thay thế. Giữ lại để làm gì?
Phe Lương vương có người còn cười nhạo việc tiêu tốn nhiều tài nguyên và nhân lực như vậy.
Dĩ nhiên, cũng có người dường như đã nhìn ra ý đồ của Triệu Hưng. Nhưng vẫn là câu nói cũ, vì chuyện này liên quan đến tầng lớp quá thấp, nên dù có muốn ngăn cản, nó cũng bị xếp ở tận phía sau.
Chưa phải việc cần xử lý ngay.
Các phân thân bận rộn khắp nơi. Còn bản tôn của Triệu Hưng ở trong cung điện các vì sao thì vẫn luôn chuyên tâm tu luyện.
Ngoại trừ tháng Mười và tháng Mười Hai năm Cảnh Tân thứ ba mươi lăm, hắn dành thời gian suy tính chuyện bên ngoài, những lúc khác đều dốc lòng nghiên cứu cách đột phá Pháp thân thượng thừa, Pháp thân Cắn Hồn.
- Tháng Mười năm Cảnh Tân thứ ba mươi lăm, quy mô tài nguyên đã điều động gần chạm đến cấp vạn ức rồi.
Triệu Hưng thầm nghĩ:
- Dù phân tán khắp Bình Hải châu, kinh phí của từng công trình riêng lẻ chẳng đáng kể, nhưng cộng lại đã vượt qua vạn ức.
- Các phân thân của ta vừa bận cứu người, vừa chạy ngược chạy xuôi khắp nơi. Trong quá trình ấy, cảm ngộ cũng dần dần tăng lên.
Thông thường, phân thân Vạn Pháp chủ yếu được dùng để chiến đấu, rất ít khi làm chuyện khác.
Những pháp thuật được sử dụng cũng khá tập trung.
Tám mươi mốt loại pháp Người Cỏ vẫn chưa được dùng hết.
Giờ đây, năng lực hành động tăng mạnh, những việc hắn gặp phải cũng nhiều hơn. Thần Hành, Tái Hành, Thánh Thuẫn, Cự Lực, Kim Cang, Triền Nhiễu, Trinh Sát, Ẩn Hình, Huyễn Hình, Tuẫn Bạo, Phi Thiên, Thần Dũng… đủ mọi phương diện đều được rèn giũa.
Triệu Hưng cuối cùng cũng hiểu vì sao năm xưa trong Vạn Pháp cung của Liễu Thiên Ninh, nhiều phân thân lại làm những việc khác nhau.
- Cách rèn luyện giữa cõi hồng trần này quả thật có thể đẩy nhanh tiến độ tu luyện pháp Người Cỏ.
Triệu Hưng lại chìm vào tu luyện.
Đến tháng Chạp năm thứ ba mươi lăm niên hiệu Cảnh Tân, hắn một lần nữa thoát khỏi trạng thái quên mình, chú ý đến những biến cố lớn bên ngoài.
- Lưu Tư bị chém ngang lưng rồi sao?
Triệu Hưng nhìn tin tức hiện lên trong gương đất, sau đó nhắm mắt lại.
- Giống hệt kiếp trước, hắn vẫn chết.
- Hai người kia đúng là anh em một nhà.
- Một kẻ chém Cổ Văn Hà, một kẻ chém Lưu Tư.
- Lưu Tư chết rồi, lý do dẹp gian thần bên cạnh vua cũng chẳng còn vững nữa. E rằng Lương vương sẽ lập tức triệu tập chư hầu hội minh, tìm cách phá vòng vây ở Bình Hải Châu.
- Đại loạn thật sự sẽ bắt đầu từ khoảnh khắc Lương vương mất đi thuật triệu gọi âm thần. Lý Bá Khiêm cũng sẽ ra tay vào lúc ấy.
- Ta phải tranh thủ tu luyện mới được.
Suy nghĩ một lượt, Triệu Hưng mở mắt, tiếp tục tu luyện.
- Pháp thân Phệ Hồn của phân thân Vạn Pháp, mỗi lần tu luyện đều kéo giật mệnh hồn của ta.
- Nếu không nhờ Diễn Thần Quyết, cứ luyện thế này, e rằng ta đã phát điên từ lâu.
Triệu Hưng cau mày. Gần đây hắn cảm thấy trong người luôn có luồng hung khí, tâm trạng tiêu cực cũng nặng nề hơn.
- Chẳng lẽ tác dụng phụ do phân thân Vạn Pháp mang lại là không thể tránh khỏi?
- Không có lý nào. Thời đại linh khí, ta vẫn luyện rất tốt kia mà.
Triệu Hưng dừng tu luyện, hết lần này đến lần khác suy diễn con đường tu luyện pháp thân Phệ Hồn.
Cuối cùng, hắn xác định phân thân Vạn Pháp quả thật sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc con người ở một mức độ nhất định. Đó là giới hạn của pháp Người Cỏ trong thời đại này.
Nguyên nhân chủ yếu nằm ở pháp thân Phệ Hồn. Pháp môn đỉnh cấp này chia tách mệnh hồn rất sâu. Nếu không đến mức ấy, pháp thuật của phân thân đỉnh cấp sẽ không thể tăng uy lực.
- Nếu không nâng uy lực lên, pháp thuật Tứ Chuyển của bản tôn cũng chẳng giúp phân thân Vạn Pháp thi triển được quá Nhất Chuyển.
- Chân ý Ngũ Hành khi mới nhập môn, có thể vặn vẹo quy tắc lúc tiểu thành, đến đại thành thì thay đổi được quy tắc. Mỗi một phân thân đều có thể tác động đến quy tắc trời đất. Vốn dĩ đây đã là pháp môn nghịch thiên.
- Uy lực quá mạnh, có tác dụng phụ cũng là lẽ thường.
Triệu Hưng thầm nhủ.
Còn pháp môn này có thể nhờ linh khí mà cải thiện hay không, phải đợi sau này kiểm chứng.
- Tác dụng phụ hiện giờ biểu lộ trên người ta là tâm trạng hung bạo, sát ý cũng nặng hơn.
- Với bốn vạn chín nghìn chín trăm chín mươi chín đạo thần niệm ở tầng thứ nhất Diễn Thần Quyết, ta hẳn đủ sức điều khiển pháp thân đỉnh cấp.
Giờ đây, Triệu Hưng chỉ cần chọc thủng lớp giấy mỏng cuối cùng là có thể đột phá. Hắn cũng mơ hồ biết được sau khi luyện thành sẽ ra sao.
Suy đi tính lại, hắn vẫn quyết định mau chóng đột phá.
Bởi pháp thân đỉnh cấp mang lại lợi ích lớn hơn tác hại rất nhiều.
Trên Tinh Thần Đài, mấy trăm người cỏ đồng loạt đứng dậy, rồi bắt đầu tan rã và dung hợp.
Mỗi phân thân lúc này đều đang dung hợp tám mươi mốt loại pháp Người Cỏ. Cứ dung hợp mãi, chúng tìm kiếm con đường mạnh mẽ hơn.
Tám mươi mốt loại pháp Người Cỏ có thể nâng cấp theo bảy hướng, thành bảy loại pháp thân.
Hiện giờ, thứ Triệu Hưng dốc sức tu luyện chính là pháp thân Phệ Hồn.
Hắn chìm trong lĩnh ngộ, chẳng hay năm tháng trôi qua.
Trên Tinh Thần Đài, số phân thân dần ít đi.
Một ngày nọ, Triệu Hưng đột nhiên mở mắt.
Trên Tinh Thần Đài lúc này chỉ còn lại một phân thân.
Phân thân ấy cũng mở mắt cùng lúc.
Bịch, bịch.
Hai tiếng tim đập vang lên. Trong mắt bản tôn và phân thân đồng thời lóe lên sát ý dữ dội.
Nhưng chỉ trong chớp mắt, sát ý ấy đã bị những vì sao mang bí văn áp chế.
Ngày hai mươi lăm tháng Tư năm thứ ba mươi sáu niên hiệu Cảnh Tân, pháp thân đỉnh cấp luyện thành.
Từ khi Triệu Hưng bắt đầu bế quan đến nay, đã tròn một năm.
Ào ào!
Kho báu của Tinh Thần Cung lại mở ra. Vật liệu cuồn cuộn tuôn ra như dòng thác.
Những vật liệu quý giá ấy vừa xuất hiện trên Tinh Thần Đài, từng bóng người đã hiện ra.
Chớp mắt, số phân thân đã vượt quá một nghìn.
- Một năm tu luyện thận trọng, cố giảm bớt tác dụng phụ, cuối cùng ta cũng đạt đến cảnh giới nghìn pháp thân. Giờ tác dụng phụ đã rất nhẹ.
Triệu Hưng cảm nhận tình trạng của mình.
- Chỉ cần Diễn Thần Quyết của ta vượt xa tiến độ tu luyện pháp Người Cỏ, ta có thể áp chế tác dụng phụ mãi. Đến thời đại linh khí, nó sẽ hoàn toàn biến mất.
Nhưng lúc này Triệu Hưng chẳng còn tâm trí nghĩ đến chuyện đó.
- Pháp thân đỉnh cấp đã thành, đến lúc ta xuất quan rồi.