Bảy mươi sáu vạn hộ dân trên đảo Song Tử hầu hết đều tụ cư tại các đảo vịnh nhỏ, nơi có nhiều vụng nước để tiện bề di chuyển bằng thuyền nan.
Trái lại, trên hòn đảo chính rộng lớn hơn lại là vương quốc của ba trăm năm mươi bảy vạn con dị thú đủ loài, trong đó chỉ có hơn một nghìn con là đạt tới cấp bậc nhập phẩm.
Ngăn cách giữa hai bên là một vạn dặm vịnh biển với làn nước nông, chỗ sâu nhất cũng chưa tới bốn mươi trượng.
Hệ thống quan lại ở vùng đảo này, nếu so với đại lục, được thiết lập thêm rất nhiều cơ cấu chuyên trách.
Huyện nha thì lập thêm Tuần Dương ty, Ty Nông giám có thêm Long Mã ty, Thiên công ty mọc ra một bộ phận sửa chữa tàu biển, Thần miếu dựng Hải Thần điện, lại thêm cả ty Quản lý thương thuyền…
Ngồi trên lầu thuyền, công chúa Dung Nhược chậm rãi giới thiệu tường tận tình hình đảo Song Tử cho Triệu Hưng nghe.
Dù sao thì kiếp trước Triệu Hưng cũng từng làm quan ngoài hải đảo, nhưng mỗi thời mỗi khác, mỗi nơi mỗi vẻ, vì vậy hắn vẫn kiên nhẫn lắng nghe từng lời của nàng.
Địa vị của Long Mã ty ở đảo Song Tử rất cao, không thuộc quyền quản lý của Ty Nông giám huyện Song Tử mà chạy song song, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Ty Nông giám phủ Sùng Minh.
Ty Nông giám bên đảo vịnh vẫn quản lý các mảng như ruộng tịch điền, thóc thuế, kho Thái Thương, bình ổn giá cả.
Nhưng Long Mã ty bên đảo lớn thì chỉ lo thuần dưỡng dị thú.
- Long Mã ty đảo Song Tử đặt chức Tả, Hữu ty chính, dưới quyền còn bố trí các ty thừa.
- Tả ty chính là quan đầu ngành, Hữu ty chính phụ tá cai quản các mảng như Trác Tuyền cung (nơi ở của dị thú), Thừa Hoa giám (chuyên lo biểu diễn lễ nghi cho thú), Thần Tư (phối hợp thức ăn cho thú).
Vì muốn lấy lòng Triệu Hưng, Dung Nhược đã chuẩn bị công phu từ trước, bởi nàng biết gã từ một viên lại thi cử ngoi lên, vừa nhậm chức đã ngồi ngay vào ghế quân tư nông.
Chuyện văn tư nông thì hắn hoàn toàn mù tịt, huống chi là mấy chục sự vụ ngoài đảo hoang này.
Trong suy nghĩ của Dung Nhược, Triệu Hưng chưa từng đặt chân ra biển, khéo đến cả thủ hạ trong tay có những bộ phận nào hắn còn chẳng nắm rõ.
Nhưng càng nói, nàng càng nhận ra thực tế hoàn toàn trái ngược với tưởng tượng.
- Sao không thấy nàng nhắc đến Thần Tuyển ty? - Triệu Hưng cất lời hỏi.
Thần Tuyển ty chính là cơ quan chịu trách nhiệm tuyển chọn, huấn luyện dị thú, cũng là nơi tối quan trọng.
Đây là thứ hắn quan tâm nhất, bởi hắn còn đang trông cậy vào nó để thăng quan tiến chức. Đại hội vạn thú tranh tài là một sự kiện đình đám, bắt buộc phải có sự phê chuẩn hạn ngạch từ Thần Tuyển ty.
Không có hạn ngạch thì đừng mong tham gia bất kỳ giải đấu nào.
Dung Nhược đáp:
- Sư huynh không biết đấy thôi, đảo Song Tử đã bị bãi bỏ Thần Tuyển ty từ nhiều năm nay rồi.
- Tại sao?
- Bởi vì Long Mã ty đảo Song Tử đời trước liên tục sáu mươi lăm năm không qua nổi vòng sơ loại tranh tài, sớm đã mất quyền tham gia, tự khắc bị triều đình xoá bỏ.
Triệu Hưng cạn lời.
Nếu ví tứ hải tranh tài như một giải đấu tầm cỡ quốc tế.
Thì Đông hải tranh tài chính là vòng đấu loại bảng.
Còn các đảo thuộc quần đảo Tử Tiêu tổ chức chẳng qua chỉ là vòng sơ tuyển mà thôi.
Tính đi tính lại, đảo Song Tử bắt đầu sa sút từ khoảng sáu mươi lăm năm trước. Đó cũng là thời điểm vừa khép lại bí cảnh Long Đình không lâu.
Cũng là lúc Lương vương của phủ Cửu Thiên Đinh Nguyên đương quyền.
- Đã bãi bỏ nhiều năm như vậy, chẳng lẽ không ai muốn vực dậy sao? - Triệu Hưng hỏi.
- Có chứ. - Dung Nhược đáp. - Vị Tả ty chính tiền nhiệm đã cố gắng suốt tám năm trời, mục đích duy nhất là giành lại quyền tham dự vòng sơ loại.
- Rồi sao nữa?
- Rồi ông ta thất bại, bị điều đi khai hoang ở đảo Minh Hoang.
-...
Triệu Hưng lại cạn lời lần nữa. Đảo Minh Hoang là cái xó xỉnh quái quỷ gì chứ, đó thuần túy là chỗ để đi mở cõi khẩn hoang.
Sâu trong vùng Đông hải có vô số hoang đảo cùng những mảnh đất nhỏ.
Cư dân và các vương quốc sống ở đó gộp chung lại gọi là Đông Doanh.
Đông Doanh còn lạc hậu hơn cả Nam hoang, hầu hết đều là thổ dân chưa khai hóa. Nam man ít ra còn giáp ranh với Đại Tràm, ít nhiều gì cũng tiếp thu văn hóa Đại Tràm.
Ra đó khẩn hoang chẳng khác nào rời xa thế giới loài người phồn hoa, đến chỗ rách nát làm quan chẳng khác gì bị lưu đày.
Bộ máy quan lại ở đó còn chẳng cấu thành nổi hoàn chỉnh, có cho chức quan ngũ phẩm cũng chẳng ai thèm ngó ngàng.
Vị ty chính đời trước bị điều đi mở hoang đảo Minh Hoang, kết cục thảm hại chẳng khác nào giáng chức lưu đày.
- Lão ta đã dốc sức suốt tám năm, cuối cùng lại đổi lấy kết quả thế này, rốt cuộc lão đã làm những gì? - Triệu Hưng hỏi.
- Để khôi phục Thần Tuyển ty, ông ta bắt buộc phải gầy dựng một lứa dị thú thật mạnh mẽ.
- Nhưng lão ta quá nôn nóng. Năm năm đầu thì chỉ tăng cường huấn luyện bình thường, tuy ngặt nghèo nhưng chưa đến mức liều lĩnh. Đến ba năm cuối, lão ta gom hết dị thú trong Long Mã ty lại, thả vào một chỗ rồi bắt chước kiểu nuôi cổ trùng, để chúng cắn xé lẫn nhau nhằm chọn ra một đám mạnh nhất.
- Hậu quả là dị thú trong Long Mã ty hao hụt nghiêm trọng, không đủ cung cấp lượng cơ bản cho đạo viện, quân đội và hoàng tộc triều đình, lại chẳng giành nổi suất tham dự tranh tài nào, thế nên lão ta bị điều đi là phải.
- Kẻ này cũng xem như liều cả tiền đồ để đánh cược một phen. - Triệu Hưng nghe xong không khỏi cảm thán. - Hèn chi trên đảo chỉ còn vỏn vẹn hơn ba triệu con dị thú, mà dị thú nhập phẩm chỉ lèo tèo hơn một nghìn con.
Hơn ba triệu con, thoạt nghe thì nhiều, nhưng thực tế lại ít đến đáng thương.
Mấy hộ chăn nuôi lớn ở quận Bích Tiên mỗi năm cũng xuất chuồng mấy vạn con heo thịt không nhập phẩm.
Để kiếm việc cho Triệu Thụy Đức làm, Triệu Hưng từng sai Hạ Tĩnh sắp xếp nuôi giùm mấy bầy trâu dê từ một năm trước, tính riêng gia đình hắn đã có tới vạn con.
Dị thú ở Long Mã ty đảo Song Tử chắc chắn cấp bậc phải cao hơn, nhưng năng lực nuôi dưỡng thế này thì không thể coi là cùng một đẳng cấp được.
Cho nên vị giám ty tiền nhiệm bị đày ải thật chẳng oan uổng chút nào. Nhập phẩm chỉ còn hơn một nghìn con, còn không nhập phẩm vỏn vẹn hai ba triệu con.
Trong lòng Triệu lão gia lúc này chỉ có đúng ba chữ: Hỏng bét!
Hết cách, chỉ đành tìm công chúa Dung Nhược cầu cứu.
Ban đầu hắn vốn chẳng muốn làm phiền nàng, nhưng cái khó ló cái khôn, với cái nền móng tồi tàn của đảo Song Tử hiện tại, có mười năm cũng đừng mong hồi phục nguyên khí.
Không cầu cạnh Dung Nhược, mười năm sau hắn cũng chẳng làm nên tích sự gì ở cái nơi quỷ quái này.
- Sư mẫu, cứu đệ với!
Lầu thuyền còn chưa hạ cánh, Triệu Hưng đã ba chân bốn cẳng chạy vào Vĩnh Hoa điện của Dung Nhược.
- Lại sao thế? Tự dưng kêu cứu mạng là thế nào? - Dung Nhược đang ngồi phê duyệt công văn bên án thư, nghe tiếng kêu la liền bật cười ngẩng đầu lên.
Nàng hoàn toàn chẳng lo gặp phải nguy hiểm gì, vùng biển này trân châu bảo vật thiếu gì, lại có ai dám mò đến đây ám sát nàng?
- Sư mẫu ơi, đệ vừa đến đảo Song Tử mới hay Long Mã ty thối nát đến mức này, chẳng khác nào đang tước đoạt cái mạng nhỏ của đệ mà! - Triệu lão gia nhập vai như thần, ngồi bệt xuống đất che mặt khóc rấm rứt.
- Đảo Song Tử dẫu sao cũng là lãnh địa của bản cung, sao bản cung lại không biết tình hình tồi tệ như lời đệ nói cơ chứ? - Dung Nhược đặt sách xuống.
Phải, đảo Song Tử thực chất cũng thuộc sở hữu của Dung Nhược.
Chỉ là nàng đã từ bỏ quyền quản lý hành chính, giao phó quyền đó cho nha môn quan phủ.
Nhưng quyền sở hữu đất đai vẫn thuộc về Dung Nhược, toàn bộ dân chúng trên đảo đều đang làm thuê cho nàng, ngay cả quan phủ cũng phải nộp tiền thuê đất, vì mọi khu đất xây dựng của huyện nha Song Tử đều là của nàng.
Đến cả phủ quân phủ Sùng Minh còn phải nhìn sắc mặt Dung Nhược mà hành sự.
Bởi vì bất kỳ vị phủ quân nào lên nhậm chức cũng phải cầu cạnh sự hậu thuẫn của Dung Nhược mới mong làm nên chuyện, nhẹ nhất cũng không dám để nàng phản đối, bằng không vừa hết nhiệm kỳ là chỉ còn nước chờ bị giáng chức.
- Long Mã ty vốn có quy cách cấp phủ, thế mà chỉ có vỏn vẹn hơn ba triệu con dị thú không nhập phẩm, dị thú nhập phẩm lại chỉ có hơn một nghìn con. Thậm chí Thần Tuyển ty còn bị dẹp tiệm luôn rồi! - Triệu Hưng bắt đầu giở bài than nghèo kể khổ.
- Đệ từ võ chuyển văn, khó khăn lắm mới vớt vát được một chân chủ quan, kết quả nhận lại một bãi chiến trường ngổn ngang, lại còn là một đống đổ nát dang dở, chẳng mấy chốc mà bị tước quyền… Thế này thì chẳng phải đang ép chết đệ sao?
- Thôi đi, thôi đi cái điệu bộ đó đi. - Dung Nhược mắng yêu. - Đại nam tử đại trượng phu mà cứ khóc lóc sướt mướt, ra thể thống gì nữa?
- Đệ uất ức lắm chứ bộ!
Đứa nào chứ riêng Dung Nhược lại cực kỳ ăn chiêu này.
Nàng thích sự cứng rắn của Liễu Thiên Ninh, nhưng lại không hề muốn tiểu tử này cũng phải cứng đầu như thế, cái nàng cần chính là cảm giác “được cần đến”.
Dung Nhược mỉm cười đầy ý vị:
- Đã đặt chân đến địa bàn của bản cung rồi, chẳng lẽ còn để đệ phải chịu uất ức hay sao?
- Đợi đệ nhậm chức xong, bản cung sẽ điều sang đây một lứa thú con có huyết mạch thượng hạng.
- Còn chuyện khôi phục Thần Tuyển ty, đợi đệ nuôi đám thú con đó lớn đến mùa thu năm sau, cứ việc nộp đơn lên đại nhân Vương ở phủ Sùng Minh là được, bản cung sẽ ngầm dặn dò hắn một tiếng.
- Thế còn quyền dự vòng sơ loại...
- Chỉ cần đệ thể hiện không đến nỗi nào, đến lúc đó bản cung sẽ ném cho đệ vài suất để tha hồ vẫy vùng.
- Đa tạ sư mẫu! - Triệu Hưng nhảy cẫng lên, cung kính cúi đầu hành lễ tạ ơn.
- Đồ ranh con lém lỉnh! - Dung Nhược mắng yêu. - Thật chẳng có chút nào giống tính ông thầy của đệ cả.
- Sư mẫu dạy phải lắm.
- Mau đi chỉnh trang lại y phục đi, lầu thuyền sắp hạ cánh rồi.
- Vâng, đệ xin cáo lui.
Triệu Hưng hớn hở bước ra khỏi Vĩnh Hoa điện.
Lão yêu bà này công nhận sống đẹp, hứa cho là cho thật.
Cũng xem như giải quyết được một bài toán khó cho hắn.
Đứng đợi bên ngoài cửa, thị nữ Mặc Trúc nhìn Triệu Hưng bằng ánh mắt ngưỡng mộ vô cùng.
Nàng vốn tưởng bản thân đã đủ giỏi làm nũng rồi, nào ngờ sư huynh còn cao tay hơn!
Đến cả mặt mũi cũng vứt xó luôn rồi chứ lị!
Sư huynh quả thật quá mức lợi hại...
- Nhìn cái gì mà nhìn?
- Muội thấy sư huynh chẳng những vô địch ở lục phẩm, mà ngay cả mặt dày cũng đạt cảnh giới vô địch thiên hạ.
- Ý muội là da mặt ta dày chứ gì?
- Sư huynh quả nhiên thông minh tuyệt đỉnh.
-...
Triệu Hưng liếc xéo Mặc Trúc một cái, tiểu nha đầu này càng ngày càng gan lớn bằng trời, đến cả hắn mà cũng dám trêu chọc.
- Sư muội, lần trước muội đột phá động thiên nhanh quá nên căn cơ có phần hư phù, hôm nay sư huynh sẽ vạch ra một bộ phương án tu luyện riêng để giúp muội củng cố lại.
- Ồ? - Mặc Trúc lập tức bỏ ngoài tai sự đe dọa trong giọng nói của Triệu Hưng, ngược lại còn vô cùng hớn hở. - Sư huynh định vạch kế hoạch tu luyện thế nào thế?
- Trong quân có một môn nội luyện pháp môn dành cho võ giả tên là Thao Thực pháp, chỉ cần ăn uống thả phanh là có thể thúc đẩy tu vi, cường hóa tạng phủ.
Khóe môi Triệu Hưng nhếch lên một nụ cười gian xảo. - Ta sẽ thiết kế riêng cho muội một bộ, đến lúc đó nếu có thời gian, muội cứ tới tìm ta, đảm bảo khiến sư muội nhớ mãi không quên.
- Nhất ngôn vi định đấy nhé! - Mắt Mặc Trúc sáng rực lên.
…………
Khi lầu thuyền của Dung Nhược sắp cập bến Ty Lầu thuyền tại huyện Song Tử.
Huyện lệnh huyện Song Tử là Tôn Sĩ Triêu, quan chức chính ngũ phẩm thượng, liền lập tức phát đi thông báo yêu cầu toàn bộ các ti chủ quan nhanh chóng tề tựu để nghênh đón.
Tin tức vừa truyền tới Long Mã ty, Hữu ty chính Đào An Xuân cùng Thừa Hoa lệnh Đổng Nguyên Thu đang ngồi uống rượu giải sầu.
Nguyên nhân là vì vị trí chủ quan huyện Song Tử vốn bị bỏ trống suốt ba năm nay, nay cuối cùng cũng có kết quả chính thức.
Nhưng ngặt một nỗi người ngồi vào ghế đó lại chẳng phải là bất kỳ ai trong số họ.
Mà là một kẻ từ trên trời rơi xuống mang tên Triệu Hưng.
Vốn dĩ Đào An Xuân là kẻ ngồi ghế á quân, hy vọng leo lên vị trí đứng đầu của hắn là rất lớn.
Hắn cũng đã bỏ ra hơn nửa năm trời bôn ba vì chiếc ghế này, dẫu cho Long Mã ty đảo Song Tử không còn Thần Tuyển ty, số lượng dị thú lại nghèo nàn.
Nhưng chỉ cần không ôm mộng tham gia vòng sơ loại, ngoan ngoãn nuôi thú chừng mười năm, cũng có thể từ từ vực dậy cơ ngơi.
Đâu phải ai cũng có cái tham vọng lớn lao như Triệu Hưng.
Không nói gì khác, riêng việc ngồi lên ghế chủ quan cũng đủ giúp hắn kiếm thêm không ít bổng lộc lẫn tiền thưởng rồi!
Đổng Nguyên Thu cũng nghĩ y chang vậy, thà cứ để Đào An Xuân lên chức thì có phải hơn không? Ít ra bọn họ mấy kẻ ở dưới cũng được thơm lây mà thăng quan tiến chức một bậc chứ bộ?
- Đào huynh có biết vị Triệu Hưng này rốt cuộc là thần thánh phương nào không?
Đào An Xuân lắc đầu:
- Nghe trong phủ đồn rằng hắn xuất thân từ trong quân ngũ, căn cơ đặt tại phủ Cửu Thiên Đinh Nguyên, còn cụ thể ra sao thì chịu. Chỉ nghe nói tuổi tác còn trẻ măng, tính theo tuổi mụ chắc mới chừng hai mươi tư, hai mươi lăm gì đó.
- Trẻ thế cơ à? - Đổng Nguyên Thu ngẩn ra. - Lạ thật đấy, nếu là công tử thế gia nào xuống đây mạ vàng, thì cũng chẳng đời nào chọn cái huyện Song Tử khỉ ho cò gáy này, chẳng lẽ hắn đắc tội kẻ địch nào trong quân nên mới bị đày ải ra đây?
- Nghe đồn là đắc tội với phe cánh Lương vương trong quân, nên mới phải trốn chạy ra tận ngoài biển khơi này.
Đổng Nguyên Thu nghe xong liền thở dài sườn sượt.
- Lương vương chính là thúc phụ ruột của công chúa Dung Nhược, đắc tội với phe cánh của lão thì còn đường sống nào nữa? Ngươi với ta nếu có ai ngồi lên ghế chủ quan, tương lai còn dăm ba phần hy vọng vực dậy Long Mã ty đảo Song Tử, chứ còn bây giờ thì...
- Haiz, tiền đồ của Long Mã ty đảo Song Tử coi như vứt.
Đổng Nguyên Thu và Đào An Xuân hoàn toàn đoán sai bét nhè về lai lịch của Triệu Hưng, thậm chí còn suy diễn theo chiều hướng ngược lại.
Thực tế thì Dung Nhược vốn chẳng có mấy thiện cảm với vị thúc phụ ruột thịt này.
Bởi vì dạo trước khi Lương vương lập ra Hắc Long quân, đã rút đi không ít nguồn lực từ lãnh địa của nàng.
Những giống rồng cường đại ở đảo Á Long và đảo Vạn Thú hầu như đều chui hết vào túi của Lương vương.
Đang lúc hai gã quan viên này ngồi than thở ngắn dài, bỗng có một tên văn thư quan hớt hơi hớt hải lao vào.
- Hai vị đại nhân, huyện nha truyền tin khẩn!
- Chuyện gì thế?
- Bích Du lầu thuyền của công chúa Dung Nhược sắp hạ cánh xuống huyện Song Tử rồi! Huyện tôn đặc biệt triệu tập các vị đại nhân mau chóng tới Ty Lầu thuyền ở đảo vịnh để nghênh giá.
- Cái gì?! - Đào An Xuân và Đổng Nguyên Thu lập tức tỉnh cả rượu.
- Mau mau thông báo cho các vị giám thừa các bộ, lập tức khởi động Vân Vũ lầu thuyền đến Ty Lầu thuyền ở đảo vịnh ngay lập tức!
- Vâng!
Đào An Xuân và Đổng Nguyên Thu đưa mắt nhìn nhau, đoạn nhanh chóng đứng phắt dậy.
- Công chúa Dung Nhược không đời nào tự dưng lại ghé qua đảo Song Tử đâu, chẳng lẽ mấy tháng nay Đào huynh bôn ba ngược xuôi cuối cùng cũng phát huy tác dụng rồi sao? - Đổng Nguyên Thu hỏi dồn.
Hắn thừa biết Đào An Xuân vẫn luôn chày cối tìm cách bấu víu vào quan hệ với phủ công chúa, thậm chí còn viết không biết bao nhiêu bức thư gửi vào phủ Dung Nhược với hy vọng cải thiện tình hình cho Long Mã ty đảo Song Tử.
- Ta cũng chịu. - Đào An Xuân lắc đầu, thiệp mừng hắn gửi vào phủ công chúa chưa từng nhận lại dù chỉ một lời hồi đáp.
Một tên lục phẩm ty nông quèn thì có tài cán gì mà lọt nổi vào mắt xanh của công chúa?
Dù có gửi bao nhiêu lần thì cũng chỉ như muối bỏ biển mà thôi.
Đào An Xuân thuở trước cũng từng lặn lội tới quận Bích Tiên xin kiến giá, nhưng chưa một lần được công chúa tiếp kiến, trái lại còn bị thực ấp phong thần trong phủ mắng cho xối xả vì tội luồn cúi bợ đỡ, không biết phép tắc bề tôi.
Nhưng ngặt nỗi, hiện tại công chúa Dung Nhược lại đường hoàng xuất hiện ở đảo Song Tử, trong lòng hắn không khỏi dấy lên một tia hy vọng mỏng manh.
- Chẳng lẽ ngài ấy thật sự vì ta mà đến?
Nghĩ đến khả năng này, lồng ngực Đào An Xuân bắt đầu phập phồng hồi hộp và phấn khích tột độ.
Phải biết rằng, số lượng hòn đảo mà công chúa Dung Nhược sở hữu ở vùng Đông hải vượt quá con số hai mươi vạn!
Tính riêng các hòn đảo được lập huyện cũng đã vượt mốc hai vạn.
Cứ cho là chỉ tính riêng hai vạn hòn đảo có phủ đệ đi chăng nữa.
Mà công chúa đi tuần tra các đảo, cho dù mỗi hòn đảo chỉ dừng chân đúng một ngày, cũng ngốn mất gần sáu mươi năm!
Hỏi sao Đào An Xuân không thể kích động cho được?
Đừng nói là hắn, cả đám quan lại huyện Song Tử lúc này đều sướng rơn cả người.
Tựa như đám phi tần bị bỏ quên trong hậu cung lạnh lẽo nhiều năm, nay cuối cùng cũng ngóng được giọt mưa ân sủng từ nhà vua!
- Mau, lấy bộ pháp y Tiên Điểu Vân Hải của bản quan ra đây!
- Đào huynh hồ đồ rồi đấy, ngươi với ta đều là quan tư nông, mặc bộ đồ chói lóa như thế làm cái gì?
- Cứ mặc bộ pháp y cũ kỹ sờn bạc này là được, tốt nhất là chỗ nào không nhìn thấy thì bôi thêm dúm bùn vào!
- Xì, vẫn là Đổng huynh cao tay!
…………
Huyện Song Tử, Ty Lầu thuyền.
Bích Du lầu thuyền của công chúa Dung Nhược chậm rãi hạ cánh xuống quảng trường bến thuyền rộng thênh thang.
Huyện lệnh Tôn Sĩ Triêu vội vã dẫn đầu trăm quan quỳ rạp xuống đất hành lễ.
- Thần, Tôn Sĩ Triêu, dẫn dắt văn võ bá quan huyện Song Tử, kính kiến điện hạ!
- Kính kiến điện hạ!
Đám quan viên dưới sự dẫn dắt của Tôn Sĩ Triêu đều nhất loạt sụp lạy.
- Miễn lễ đi. - Dung Nhược đứng trên lầu thuyền nhìn xuống cảnh tượng bên dưới, quanh người nàng ánh hào quang lập lòe rực rỡ, chim huyền, rồng vàng, phượng đủ màu cùng mây lành hiện ra đủ mọi điềm dịu.
- Tạ điện hạ! - Tôn Sĩ Triêu đứng dậy rồi lại cúi đầu bái lạy lần nữa. - Cung thỉnh điện hạ giá lâm, dời bước ghé thăm huyện Song Tử.
Sau tiếng hô vang trời của bách quan, tất cả đều nín thở chờ đợi lời vàng ngọc từ miệng công chúa.
- Thôi được, bản cung cứ ngắm cảnh qua loa là được rồi, Tôn Sĩ Triêu, ngươi dẫn đường đi.
- Tạ điện hạ! - Tôn Sĩ Triêu mừng đến mức tim muốn nhảy khỏi lồng ngực, lập tức sai người nghênh đón cờ xí trượng phu của công chúa.
Triệu Hưng ngạc nhiên liếc nhìn một cái, hắn hoàn toàn không ngờ Dung Nhược lại hứng chí cất bước xuống thuyền.
Vốn dĩ ban đầu Dung Nhược chỉ tính tiện đường thả Triệu Hưng xuống đây thôi, chứ chẳng có ý định ghé chân lên đảo.
Nhưng phút chót nàng lại đổi ý, dứt khoát bước xuống thuyền ở lại đảo Song Tử trọn một ngày.
Cốt là để tạo thanh thế cho vị đệ tử này của mình.
Đằng nào cũng lỡ đến rồi, mất mát gì dăm ba bước chân đâu.
Nàng làm ra màn này, coi như sau này Triệu Hưng ở đảo Song Tử muốn làm gì cũng thuận buồm xuôi gió.
Và quả đúng như những gì Triệu Hưng dự tính.
Sau màn này, đâu chỉ gọi là thuận buồm xuôi gió nữa?
Đơn giản là muốn làm gì thì làm.
Bây giờ có đè cổ Tôn Sĩ Triêu xuống bắt gọi bằng ông nội đi chăng nữa, lão ta phỏng chừng cũng phải ngoan ngoãn dạ vâng.
Mọi chuyện quả nhiên diễn ra đúng như phỏng đoán của Triệu Hưng.
Khi Dung Nhược bước xuống, đám quan viên ngạc nhiên phát hiện ra bên cạnh vị điện hạ này còn có thêm một nam thanh niên mặc đạo bào đính ngọc mão kim trúc.
Nhìn qua là biết ngay đây là một vị quan tư nông, hơn nữa còn là chính lục phẩm.
Nếu cấp bậc cao thì chẳng nói làm gì, dung nhược dù có giao thiệp với quan nhất phẩm đi nữa thì bọn họ cũng chẳng thấy lạ.
Nhưng lục phẩm lại bị coi là quá thấp bé, lập tức thu hút ánh mắt tò mò dò xét của cả trăm quan lại.
Đặc biệt là Đổng Nguyên Thu và Đào An Xuân, ánh mắt cứ dán chặt vào không rời nửa bước.
- Chẳng lẽ đây là thực ấp phong thần của công chúa Dung Nhược?
- Là họ hàng thân thích ư? Hay là đệ tử đắc thế trong đạo viện?
- Chẳng lẽ lại là...
- Hỗn xướng, ngậm miệng ngay! Ngươi không muốn sống nữa à, truyền âm cũng không được phép bàn tán chuyện của công chúa!
- Ta có nói cái gì đâu nào...
…………
Đoàn người di chuyển đến huyện nha huyện Song Tử trên đảo vịnh, lúc này Dung Nhược mới đảo mắt nhìn xuống trăm quan.
- Ty chính, các vị tư thừa, lệnh của Long Mã ty có mặt ở đây không?
Đào An Xuân mừng khấp khởi trong lòng, lập tức bước lên khỏi hàng:
- Bẩm điện hạ, hạ quan là Đào An Xuân, hiện giữ chức Hữu ty chính của Long Mã ty.
- Các vị chủ quan của Long Mã ty chúng thần đều đã có mặt đông đủ, cung thỉnh điện hạ ban huấn thị.
Giọng nói của Đào An Xuân lúc này run lẩy bẩy vì hắn cảm thấy bản thân sắp phất to đến nơi rồi.
Quả nhiên Dung Nhược cố ý vì hắn mà đến, bằng không sao vừa đặt chân xuống đã cất công hỏi thăm Long Mã ty trước tiên?
- Ồ, thế thì tốt quá. - Dung Nhược phất tay áo. - Chuyến đi này của bản cung tiện thể đưa vị Tả ty chính mới nhậm chức của Long Mã ty các ngươi tới đây luôn.
Vừa nghe dứt câu, tất cả mọi người có mặt đều ngẩn người.
Tôn Sĩ Triêu vô thức chuyển ánh mắt sang người thanh niên đứng cạnh Dung Nhược, chính là Triệu Hưng.
Đào An Xuân và Đổng Nguyên Thu lúc này cũng đờ đẫn cả người.
- Hắn tên là Triệu Hưng, là quan chủ quan mới của Long Mã ty các ngươi, còn không mau qua kiến lễ?
Lời của Dung Nhược vừa thốt ra, ngay cả đám quan lại thuộc các ty khác trong Ty Nông giám cũng đứng ngồi không yên.
Họ lần lượt đứng dậy, hướng về phía Triệu Hưng chắp tay chúc mừng.
- Cung hỉ Triệu đại nhân nhậm chức!
Còn về phần mấy tay quan chức Long Mã ty như Đào An Xuân và Đổng Nguyên Thu.
Cằm của họ lúc này chắc rớt mẹ xuống đất tới nơi rồi!
Được công chúa tự mình hộ tống đến tận nơi, lại còn công khai đòi đám quan lại phải sụp lạy nghênh đón trong bầu không khí thế này, chỗ dựa hậu thuẫn cỡ này thì không thể gọi là có chống lưng bình thường được nữa, bảo đây là con nuôi ruột của công chúa chắc cũng có người tin sái cổ ấy chứ!
- Hạ quan Đào An Xuân, bái kiến Triệu đại nhân.
- Hạ quan Đổng Nguyên Thu, bái kiến Triệu đại nhân.
- Hạ quan Bào Sĩ Thu, bái kiến Triệu đại nhân.
- Hạ quan...
Toàn bộ quan viên Long Mã ty có mặt đều cung kính hành đại lễ bái kiến Triệu Hưng.
Chứng kiến cảnh này, trong lòng Triệu Hưng cũng không khỏi âm thầm tặc lưỡi kinh ngạc.
Lão yêu bà này chơi lớn thật, đám tay chân ở dưới vừa thấy mặt hắn đã sợ mất mật, có kẻ còn rạp hẳn người xuống hành lễ bái lạy.
Năng lực thống trị của mụ ở vùng Đông hải này quả thực quá mức kinh khủng khiếp.
- Các vị đại nhân chớ khách sáo đại lễ như vậy, mau đứng lên đi. - Triệu Hưng vội vã đáp lễ.
Bản thân hắn vốn đang ngồi quỳ trước án, bây giờ cũng phải xê dịch sang bên để dập đầu đáp lễ cho phải phép.
Hết cách, ở đây có rất nhiều lão già tư cách thâm niên, thậm chí có cả lễ tu có phẩm hàm cao hơn cả hắn.
Cũng may là Triệu Hưng hiện đã nắm trong tay khí vận ngũ hành diễn hóa, bằng không với khí vận phẩm cấp quan viên lục phẩm bình thường, nếu không phải dòng dõi vương tôn quý tộc thì chỉ có nước giảm thọ mà chết.
- Thôi được rồi, quan viên Long Mã ty các ngươi lui ra trước đi. - Dung Nhược cất lời. - Triệu Hưng, bản cung tiễn đệ đến đây thôi.
- Đa tạ công chúa đã cất công tiễn hành. - Triệu Hưng lại cúi đầu bái tạ Dung Nhược lần nữa.
Ở những dịp công khai thế này, hắn vẫn phải gọi nàng là công chúa. Bởi vì Liễu Thiên Ninh và Dung Nhược vẫn chưa chính thức kết hôn, ở nơi đông người vẫn phải tuân thủ tôn ti trật tự gọi bằng tôn xưng.
Gọi đùa riêng tư thì không sao, chứ vác ra chỗ công chúng mà gọi bừa thì tổn hại đến thanh danh của công chúa.
Kỳ Lân phi thuyền xé gió rời khỏi đảo vịnh, bay thẳng hướng về phía Long Mã ty trên đảo lớn.
Phía sau còn lúp xúp theo sát mấy chiếc phi thuyền công vụ chở đầy quan viên Long Mã ty.
Lúc này, trong lòng Đào An Xuân tràn ngập một nỗi thất vọng ê chề.
Hắn cứ ngỡ mình trúng giải độc đắc, nào ngờ hì hục chạy tới cuối cùng chỉ để làm khán giả xem kịch vui.
Những kẻ khác thì được một phen khiếp sợ trước lai lịch thâm sâu của Triệu Hưng.
Trong lòng ai nấy đều âm thầm phỏng đoán rốt cuộc Triệu Hưng có quan hệ mờ ám gì với công chúa Dung Nhược.
Trên Kỳ Lân phi thuyền, Triệu Hưng thì đang chăm chú quan sát thiên thời địa lợi xung quanh.
- Vùng vịnh của đảo Song Tử tuy nhỏ, nhưng đảo chính lại vô cùng rộng lớn.
- Thiên thời ở đây không mấy ổn định, kém xa so với đại lục, hiện tại đã qua tiết thu phân rồi mà thời tiết vẫn nóng như đổ lửa, chẳng có chút se lạnh nào cả.
- Địa mạch trên đảo cũng chỉ ở mức làng nhàng, diện tích dẫu lớn nhưng so với chốn phồn hoa phì nhiêu như quận Nam Dương thì kém xa lắc, chẳng biết có nuôi nổi đống hạt giống mà hắn mang theo hay không đây.
Mạch suy nghĩ trong đầu Triệu Hưng chưa kéo dài bao lâu thì hắn đã thấy chiếc công thuyền dẫn đường ở phía trước bắt đầu hạ thấp độ cao.
Vốn dĩ khoảng cách cũng chẳng xa xôi gì, chỉ bay chừng khắc chén trà là đã cập bến Long Mã ty.
- Triệu đại nhân. - Đổng Nguyên Thu vừa đặt chân xuống thuyền liền ba chân bốn cẳng chạy nhanh lên trước đón đầu Triệu Hưng, cười nịnh nọt. - Đại nhân ngài xem, đây chính là tổng bộ của Long Mã ty chúng ta.
- Làm phiền Đổng đại nhân dẫn đường rồi. - Triệu Hưng mỉm cười nói.
Đào An Xuân vừa bước xuống phi thuyền chứng kiến cảnh tượng này thì mặt mũi tối sầm lại, trong lòng thầm mắng Đổng Nguyên Thu là thứ mặt dày không biết xấu hổ, dám hớt tay trên cướp mất cơ hội lấy lòng cấp trên của hắn.
Đến lúc hắn sực tỉnh phản ứng lại thì Triệu Hưng đã sớm được Đổng Nguyên Thu rước xuống thuyền, đường hoàng đóng vai trò hướng dẫn viên du lịch rồi còn đâu.
Dẫu vậy, cũng chẳng phải ai cũng hùa theo bu bám nịnh nọt.
Triệu Hưng tinh ý nhận ra vẫn có vài vị quan viên đứng từ xa xa nhìn lại, tuyệt nhiên không thèm bước tới nhập tụ.
Đi một lúc, Tường An Xuân cuối cùng cũng chớp được thời cơ dâng lòng thành:
- Triệu đại nhân, có cần triệu tập quan viên các ty đến đây để ngài huấn thị không?
Yêu thú thì có gì mà huấn, chỉ có thể huấn người thôi.
Triệu Hưng đi suốt một quãng đường, chẳng thấy nổi dải bóng ngựa nào.
- Không cần làm lớn chuyện. Ta mới chân ướt chân ráo tới đây, nhiều tình hình vẫn chưa nắm rõ.
- Trước khi ta hiểu rõ mọi chuyện, sẽ không điều động nhân sự, cũng chẳng kiểm tra sổ sách. Triệu Hưng trầm ngâm nói. Tường đại nhân, Long Mã Giám cứ chiếu theo lệ cũ mà làm. Ba năm nay ngươi vẫn giữ chức chủ quan, cứ tiếp tục đảm đương công việc hằng ngày ở đây đi.
Lời nói của Triệu Hưng không nằm ngoài dự liệu của hai người.
Vì Triệu Hưng là quân tư nông, còn chuyện nuôi dưỡng và thuần hóa yêu thú vốn là việc của văn tư nông, không hiểu cũng là chuyện thường.
Triệu Hưng không hề ngớ ngẩn mà vừa đến đã chỉ tay năm ngón, khiến họ ngược lại thở phào nhẹ nhõm.
Xem ra Long Mã Giám này, vẫn do bọn họ một tay xoay sở.
Khi Triệu Hưng dọn đến Song Tử Long Mã Giám, hắn liền từ chối mọi hoạt động xã giao vô bổ.
Quan viên lớn nhỏ trong huyện Song Tử tới mời mái, hắn đều phớt lờ.
Bên trong Long Mã Giám, hắn cũng không hề thay đổi bất cứ thứ gì.
Người ta thường bảo quan mới lên chức phải ba đám lửa đốt đầu, thế nhưng Triệu Hưng lại chẳng có lấy một tia lửa nhỏ.
Từ lúc bước chân vào Long Mã Giám, hắn im hơi lặng tiếng hoàn toàn, thậm chí đến cả chính vụ cũng mặc kệ.
Vậy Triệu Hưng đang làm gì thế?
Hắn đang luyện pháp thuật.
- Nghề nào nghiệp nấy, phương pháp ngự thú của văn tư nông, ta chưa từng học qua, nhưng bây giờ thì phải học cho bằng được.
Về khoản nuôi dưỡng yêu thú, Triệu Hưng có tuyệt kỹ cao cấp mang tên Sấm Sét Hậu Biến.
Nhưng ngặt nỗi, chiêu này thuộc dạng không thành công thì thành nhân.
Yêu thú muốn tiếp nhận Sấm Sét Hậu Biến phải đạt ngưỡng cửa tối thiểu.
Trên hòn đảo Song Tử này, kiếm đỏ mắt cũng không ra một con.
Lũ thú vốn chẳng chịu nổi uy lực sấm sét, đánh xuống một phát là đi đời nhà ma ngay lập tức.
Đương nhiên, lúc này Triệu Hưng chưa tính đến chuyện đó, thứ hắn cần quan tâm là phương pháp thuần thú.
- Pháp thuật thuần thú do Thái Bộc Tự quy định dành cho văn tư nông, đại thể chia làm ba loại.
- Loại lớn thứ nhất là Thông Thức Pháp, tức là cách giao tiếp với yêu thú.
Làm thế nào để giao tiếp với yêu thú?
Bắt buộc phải học tiếng thú, có thế mới điều khiển và huấn luyện chúng làm những việc phức tạp.
- Loại lớn thứ hai là Nô Ấn Pháp. Loại pháp thuật này có uy lực cương mãnh cực mãnh, mang tính chất ép buộc yêu thú phải tuân lệnh.
Nhiều loài yêu thú bẩm sinh đã hung ác, khó bề quản giáo, ví dụ như các loài vương thú, giao tiếp bình thường là điều rất khó.
Nô Ấn Pháp vì thế mà ra đời, loại pháp thuật này thường dùng để trị mấy con vương thú và vương thú trưởng thành.
- Loại thứ ba là Hồn Khế, loại này phải sau khi lập ra Thần Tuyển Ty mới có thể thi triển.
Mối quan hệ giữa Sơn Miêu và Triệu Hưng chính là ký kết Hồn Khế.
Hồn Khế cũng rất thịnh hành trong các đạo viện.
Sau khi ký kết, người và thú có thể đạt đến cảnh giới tâm ý tương thông.
Tuy nhiên, nó đòi hỏi linh trí, huyết mạch của thú cùng năng lực của người thi triển khắt khe hơn rất nhiều.
- Ta đến đây để bồi dưỡng và huấn luyện yêu thú cho triều đình, nhưng suy cho cùng, những con yêu thú này rồi cũng sẽ được đưa đến các vương phủ tông thất hoặc trong quân ngũ.
- Ba loại pháp thuật đi từ nông đến sâu, cứ luyện từ Thông Thức Pháp trước đã. Triệu Hưng thầm nhủ.
Hắn mở một cuốn bí tịch pháp thuật có tên Vạn Thú Chân ngôn pháp, đồng thời lấy ra một món bảo vật mang tên Hồi Âm Sơ.
Bên trong lưu giữ đủ loại âm thanh của các loài thú.
- Muốn luyện thành Vạn Thú Chân Tẩy Pháp, bắt buộc phải thỏa mãn một số điều kiện tiên quyết.
- Chẳng hạn như rèn luyện thanh đới, hay luyện nhĩ thông tai.
- May là trước đây ta từng tu luyện võ kỹ âm ba, lại uống nhiều loại thiên tài địa bảo trong động thiên linh tú, khiến thể phách cường tráng, có thể nghe được âm thanh ở các tần số khác nhau, từ đó đáp ứng đủ điều kiện tiên quyết.
Triệu Hưng lật xem cuốn bí điển về chân ngôn của loài thú.
Ngày đầu tiên, trong phủ vang vọng tiếng ngựa hí.
- Hí hí…
Mới đầu nghe còn chưa giống lắm, nhưng Triệu Hưng có bảng linh quang trợ giúp để nắn chỉnh. Nếu tiến độ không tăng, hắn biết hướng tu luyện của mình đã sai, thế nên sẽ không đâm đầu vào ngõ cụt.
Rất nhanh, hắn đã nắm vững loại Vạn Thú Chân Ngôn đầu tiên, Tử Giác Mã.
Đợi đến khi tiến độ chững lại, Triệu Hưng liền đổi sang loại chân ngôn của loài thú khác để tiếp tục tu luyện.
Ngày thứ hai, số lượng Vạn Thú Chân Ngôn mà Triệu Hưng nắm giữ đã tăng lên ba loại.
Ngày thứ bảy, số lượng Vạn Thú Chân Ngôn tăng lên đến mười tám loại.
Đến ngày thứ mười lăm, Triệu Hưng đã nắm trọn chân ngôn của các loài thú phẩm cấp thấp.
Hắn bắt đầu chuyển sang luyện chân ngôn cho thú phẩm cấp trung, trong đó bao gồm Thiên Mã, Kỳ Lân, Kỳ Lân Địa Long, Hổ Giao…
Thời gian thấm thoắt trôi qua, chẳng mấy chốc đã đến ngày rằm tháng mười hai năm Cảnh Tân thứ hai.
Lúc này, tính từ ngày Triệu Hưng nhậm chức đã qua đúng hai tháng rưỡi.
Hắn cũng không bế quan nữa mà bước ra khỏi Ty Chính Phủ.
Tuy nhiên, Triệu Hưng ra đi trong âm thầm, không thông báo cho bất kỳ ai.
- Ghé Thác Tuyền Cung xem Thiên Mã Xương trước đã.
Lũ yêu thú chưa nhập phẩm thì Triệu đại gia đây chẳng thèm ngó ngàng tới.
Hơn ba triệu con, hắn cũng lười đi xem từng con một, bởi vì toàn bộ bọn chúng đều được thả rông trên đảo.
Đa phần bọn chúng không thể trở thành chiến thú, chỉ thuộc dạng cung cấp thực phẩm, cuối cùng cũng sẽ biến thành món ăn trên bàn tiệc của đám quyền quý quan lại.
Sau khi thả rông, chỉ cần thay đổi thời tiết địa lợi trên đảo, tạo ra môi trường thích hợp cho chúng sinh sống thì lũ chúng sẽ sinh sôi nảy nở cực nhanh.
Dĩ nhiên, nếu con nào lọt vào hàng nhập phẩm, chúng sẽ có cơ hội thoát khỏi số phận bị mổ thịt để bước vào Thác Tuyền Cung, lúc đó mới thực sự đáng gọi là nuôi dưỡng.
Ngoài ra, trong Long Mã Giám vẫn còn hơn một nghìn con yêu thú nhập phẩm, chỉ những con này mới có tư cách sống ở Thác Tuyền Cung.
- Ba năm trước, sau khi vị chủ quan tiền nhiệm bị điều đi, nơi này chỉ để lại mấy chục con yêu thú nhập phẩm. Ba năm qua, người của Long Mã Giám mới từ từ nuôi dưỡng số lượng tăng dần lên tầm một nghìn con.
- Dù vậy, con số này vẫn quá ít ỏi. Triệu Hưng thầm nghĩ. Quy mô bầy đàn quá nhỏ, hoàn toàn không thể bàn đến chuyện tuyển chọn hay huấn luyện.
Số lượng yêu thú nhập phẩm là một nghin không trăm năm mươi bốn con, trong khi quan viên lớn nhỏ trong Long Mã Giám lại có hơn tám trăm người.
Số lượng quan viên suýt soát đuổi kịp số lượng yêu thú!
Nói thật, triều đình không sa thải bớt nhân sự đã là nhân từ lắm rồi.
Bởi vì Long Mã Giám này hoàn toàn thu không đủ chi.
Hơn một nghìn con yêu thú nhập phẩm không thể sinh sôi nảy nở, đừng hòng nghĩ đến chuyện cung cấp chiến thú cho triều đình, đến cả học sinh đạo viện cũng chẳng thèm ghé qua đảo Song Tử để chọn lựa.
Có thể nói, suốt ba năm qua, Long Mã Giám luôn làm ăn thua lỗ với triều đình.
Triệu Hưng bước đến ngoài Thác Tuyền Cung, mấy tên vệ binh gác cổng đang tựa cán thương gà gật ngủ gù.
Thế này vẫn còn coi là khá, chưa đến mức bỏ nhiệm vụ chạy mất tăm, chỉ là tranh thủ trốn việc lúc làm ăn.
Dẫu sao bên trong Thác Tuyền Cung cũng chẳng có gì đáng để canh gác.
- Thu! Triệu Hưng búng nhẹ ngón tay, lập tức tước đi cơn buồn ngủ của tên lính gác cửu phẩm nọ.
- Hả? Tên lính gác cầm thương bỗng chốc tỉnh như sáo, đồng thời nhìn thấy Triệu Hưng đang mặc bộ quan phục sẩm màu lục phẩm.
- Á, thuộc hạ… tham, tham kiến đại nhân! Tên lính hì hục chỉnh đốn lại mũ áo, sau đó cắm phập ngọn giáo xuống đất để hành lễ với Triệu Hưng.
- Ngươi tên là gì?
- Hạ quan tên Trương Đào.
- Thác Tuyền Cung Thiên Mã Giám, ngươi có thuộc đường không?
- Thuộc ạ.
- Dẫn đường cho bản quan.
- Vâng.
Trương Đào nơm nớp lo sợ đi trước dẫn đường, trong lòng thấp thỏm không yên, nhưng thấy vị thượng quan này không có ý định phát hỏa, hắn mới thấy nhẹ nhõm hơn đôi chút.
Thác Tuyền Cung rất rộng, gồm những dãy cung điện nối liền kề nhau.
Thác Tuyền Cung bây giờ có rất nhiều cung điện bỏ trống, phủ đầy bụi bặm.
Chẳng hạn như một ngôi điện mang tên Kha Thư Cung mà Triệu Hưng vừa đi ngang qua, nơi này vốn nuôi một loài thần mã tên là Kha Thư.
Lông màu xanh biếc, không có cánh nhưng lại có thể đạp sóng đi trên mặt nước, vượt núi trèo đèo cũng chẳng tốn chút sức lực.
Chúng có thể không ăn không ngủ mà phi nước đại vạn dặm trong một ngày, sáu canh giờ chạy một vạn dặm, đây đã là tốc độ và sức bền vô cùng đáng nể! Tốc độ tàu cao tốc cũng chỉ đến thế là cùng.
Nhưng Kha Thư Cung giờ đây đã chẳng còn bóng dáng con Kha Thư nào.
Dưới sự cai quản mang tính hủy diệt của vị tư chính tiền nhiệm, một trăm linh một con Kha Thư trong cung đã có tới tám phần chết vì đào thải nội bộ, hai phần còn lại bỏ mạng trong các kỳ khảo thí dự tuyển thi đấu.
Lại đi qua một cung điện bị niêm phong, trên biển hiệu đề ba chữ Tử Điện Cung.
Đây cũng là một giống ngựa cực kỳ ưu tú, xương cốt của loài Tử Điện vô cùng cứng cáp, bốn móng vuốt còn có thể phóng ra sấm chớp.
Trong các trận pháp huyết khí nơi chiến trường, ngựa Tử Điện cao nhất từng được đưa vào hàng ngũ chiến pháp lục cấp.
Lúc trước Long Tiêu ở cấp bảy mà chém chết Tiền Thủ Cương, dùng cũng chỉ là chiến pháp ngũ cấp.
Nếu cưỡi ngựa Tử Điện, tất cả binh lính trong chiến pháp huyết khí đều sẽ được cộng dồn uy lực sấm sét vào đòn tấn công.
Sức sống của loài Tử Điện cực kỳ dai dẳng, chúng còn có thể giúp kỵ sĩ gánh bớt sát thương. Cho dù tách khỏi chiến pháp, ngựa Tử Điện tung cước đá người cũng vô cùng dũng mãnh, dễ dàng đá chết một kẻ lục phẩm.
Trong số các chiến thú trung phẩm, thứ hạng của Tử Điện tuy không cao nhưng lại rất được quân đội ưa chuộng.
Chủ yếu vì chúng có thể hòa hợp với chiến pháp, điểm ấy khiến chúng được chào đón hơn cả đám yêu thú ngũ phẩm hay tứ phẩm.
Tuy nhiên, Tử Điện Cung ở đây bây giờ chỉ để làm cảnh.
Khoảng tám mươi năm trước, nơi này đã chẳng còn bóng dáng con ngựa Tử Điện nào nữa.
- Việc xây dựng Tử Điện Cung cũng tốn kém không ít, dùng điện xây bằng đá Lôi Thích mới thích hợp để nuôi dưỡng Tử Điện.
- Việc Đại Châu ta mở cõi nam tiến, cái giá phải trả cũng không hề nhỏ. Triệu Hưng thầm nghĩ.
Tại sao Tử Điện Cung lại chẳng còn ngựa Tử Điện?
Tất nhiên là vì gánh nặng tiêu hao do chiến tranh mang lại rồi.
Công trạng lớn nhất trong hai trăm năm cải cách của Cảnh Đế chính là việc xuất binh đánh dẹp phương nam, khai phá ra Cửu Thiên Ứng Nguyên Phủ.
Nhưng ngài cũng ngốn sạch số tài sản tích lũy mà Văn Hoàng để lại.
Triều đại Văn Hoàng kéo dài tám trăm chín mươi lăm năm (tính từ khi Văn Hoàng lên ngôi, chứ không phải tuổi thọ của ngài).
Nhờ chính sách nghỉ ngơi lấy sức, mọi loại vật tư đều trở nên vô cùng phong phú.
Triệu Hưng từng lật xem huyện chí huyện Song Tử, vào thời kỳ cuối Vĩnh An, Tử Điện Cung ở đây vẫn còn một nghìn năm trăm ba mươi hai con ngựa Tử Điện lục phẩm, chín mươi tám con ngựa Tử Điện ngũ phẩm.
Nhờ nền tảng mà Văn Hoàng để lại, suốt hai thời kỳ Thừa An và Vĩnh An, số lượng ngựa Tử Điện luôn giữ đà tăng trưởng.
Huyện Song Tử dù chỉ là một huyện mà cũng sở hữu ngần ấy chiến mã trung phẩm.
Nhưng đến đầu thời kỳ Đỉnh Tân, số lượng Tử Điện không tăng mà lại giảm.
Đến giữa thời kỳ Đỉnh Tân, số lượng sụt giảm thê thảm.
Cuối thời kỳ Đỉnh Tân, Tử Điện Cung tại đây bị niêm phong hoàn toàn, bởi vì chẳng còn con ngựa Tử Điện nào sống sót nữa, tất cả đều đã bị điều động ra chiến tuyến tiền tuyến!
Cảnh Đế còn thế, đến đời Võ Đế thì lại càng khủng khiếp hơn.
- May mà của cải tích lũy thời trước còn đủ dày, nếu không thì đến đời Võ Đế này chẳng còn chút vốn liếng nào mà phung phí nữa. Triệu Hưng thầm nghĩ. - Nếu ta mà làm Đại Tư Nông cho Võ Đế, nhất định không chịu chiều theo mấy ngón tay rộng rãi của ngài ấy đâu, phải tằn tiện mà tiêu xài mới được.
Theo chân Trương Đào, hai người rất nhanh đã đi tới ngoài Thiên Mã Cung.
Lúc này, bên trong Thiên Mã Cung cũng chẳng có con ngựa nào.
Bởi vì tất cả đều đã được thả ra ngoài đi lại vận động.
- Tổng cộng có ba trăm sáu mươi lăm con Thiên Mã, ngặt nỗi toàn là loại lông pha tạp, chẳng tìm nổi lấy một con Thiên Mã lông thuần sắc. Triệu Hưng vừa lật xem sổ sách chăn nuôi vừa lẩm bẩm.
Thiên Mã là danh từ chung để chỉ tất cả các loài yêu thú họ ngựa có mọc cánh.
Theo lẽ thường, thứ mà Thiên Mã Cung nuôi dưỡng đáng lẽ phải là thần mã trung phẩm.
Đã mang tiếng gọi là Long Mã Giám, thì các loài yêu thú thuộc họ ngựa dĩ nhiên phải là chủ đạo rồi.
Thế nhưng Thiên Mã Cung hiện tại có ba trăm sáu mươi lăm con Thiên Mã, toàn là loại phẩm cấp thấp.
Bởi vì huyết thống của chúng không thuần chủng, lông trên mình và lông vũ đều lốm đốm đủ màu.
Con có cấp độ cao nhất cũng chỉ là Thiên Mã thất phẩm mang hai sắc màu.
- Trương Đào, ngươi có biết hôm nay vị tư nông nào chịu trách nhiệm thả rông Thiên Mã không? Triệu Hưng hỏi. - Nếu câu hỏi này mà ngươi không đáp được, bản quan sẽ truy cứu tội ngươi lơ là nhiệm vụ ban nãy đấy.
Trương Đào vội vã đáp:
- Bẩm đại nhân, từ ngày mười lăm tháng mười đến ngày hai mươi tháng mười hai, mọi công vụ ở Thiên Mã Cung đều do hai vị đại nhân Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương phụ trách.
- Còn việc cho ăn thì do chính tay Tư chính Tường An Xuân của Thần Tự Cung lo liệu, ngài ấy ngày nào cũng đến đúng giờ Dậu khi Thiên Mã trở về chuồng.
- Tận mắt thấy Thiên Mã ăn xong mới rời đi, suốt ba năm nay chưa từng gián đoạn ngày nào. Trương Đào nơm nớp đáp lời.
- Xem như ngươi vượt qua bài kiểm tra. Triệu Hưng nói. - Ngươi lui đi, lần sau chớ có ngủ gật lúc đang làm nhiệm vụ nữa đấy.
- Vâng. Trương Đào cúi đầu tạ ơn rồi cáo lui.
Việc gác cổng Thác Tuyền Cung tuy không kiếm được bao nhiêu tiền nhưng lại là một chiếc bát sắt nhàn hạ.
Nhà hắn vốn ở huyện Song Tử, đời đời kiếp kiếp đều làm việc ở đây, công việc thảnh thơi lại gần nhà, hắn chẳng đời nào muốn mất đi cái công việc này.
- Tường An Xuân này thái độ làm việc cũng không tệ, suốt ba năm mà ngày nào cũng đến Thác Tuyền Cung kiểm tra. Triệu Hưng thầm ngẫm nghĩ.
Hắn gọi Trương Đào ra hỏi chuyện cũng là muốn tìm hiểu tình hình Long Mã Giám từ tầng lớp đáy.
Nếu Tường An Xuân hay Đổng Nguyên Thu mấy tên phó thủ này bất tài vô dụng, hắn sẽ tìm công chúa U Nhược để đổi người ngay.
Triệu Hưng đi làm quan, không dám nói phải dùng đội hình sang trọng đỉnh chóp, nhưng người dưới tay nhất định phải cùng chung chí hướng với mình.
Năng lực có kém một chút cũng chẳng sao, nhưng thái độ nhất định phải đoan chính!
Triệu Hưng vốn định đi xem Thiên Mã đầu tiên, ngặt nỗi đợi đến tận giờ Dậu khắc một, đám Thiên Mã vẫn chưa thấy quay về chuồng.
Lúc này, Tường An Xuân quả nhiên đúng như lời Trương Đào nói, ngồi trên một chiếc phi thuyền chở hàng chạy đến trước cửa Thiên Mã Cung.
- Triệu đại nhân? Sao ngài lại ở đây? Tường An Xuân nhìn thấy Triệu Hưng, không khỏi tỏ vẻ kinh ngạc.
- Ta vừa xuất quan nên ghé Thiên Mã Cung xem thử một chút. Triệu Hưng mỉm cười nói. - Tường đại nhân vất vả rồi, chuyện cho ăn sao phải tự mình nhúng tay vào thế? Giao lại cho lệnh quan làm là được mà.
Nghe Triệu Hưng nói câu ngoại đạo như thế, trong lòng Tường An Xuân thoáng xẹt qua một tia khinh miệt, nhưng bề ngoài vẫn không để lộ:
- Triệu đại nhân không biết đấy thôi, Thiên Mã cực kỳ kén ăn, muốn giúp chúng lột bỏ lớp lông tạp trên người, bắt buộc phải dùng ngũ giai tinh thực để nuôi dưỡng.
- Cứ năm ngày lại phải đổi một loại tinh thực khác, mới giữ cho dinh dưỡng ngũ hành trong cơ thể chúng được cân bằng.
- Nếu cho ăn không đúng cách, chẳng những không lớn nổi mà còn rất dễ sinh bệnh.
Dĩ nhiên Triệu Hưng thừa biết những điều này, hắn cố tình hỏi thế chỉ để kiểm chứng xem lời Trương Đào nói có thật lòng hay do Tường An Xuân cố tình dàn dựng để diễn kịch cho mình xem.
Tiếp đó hắn lại dùng danh nghĩa thỉnh giáo để hỏi thêm vài câu, thấy Tường An Xuân đối đáp trôi chảy, Triệu Hưng liền hoàn toàn xác nhận Tường An Xuân quả thực là kẻ làm việc thực tế.
- Lạ thật, sao giờ này mà Thiên Mã vẫn chưa về chuồng? Càng trò chuyện, Tường An Xuân bỗng sực đổi sắc mặt nghi hoặc.
Bởi vì lúc này đã là giờ Dậu khắc bảy, vậy mà chẳng có nổi một con Thiên Mã nào quay về.
Chiếu theo quy định ngày thường, muộn nhất là đến cuối giờ Dậu là toàn bộ Thiên Mã phải tề tựu về chuồng hết rồi chứ.
- Chắc chắn là đã xảy ra chuyện gì đó. Tường An Xuân vội vàng ra lệnh cho người vận chuyển thức ăn vào trong Thiên Mã Cung.
Sau khi trút hết hàng hóa xuống, chiếc phi thuyền trở nên nhẹ nhàng thanh thoát hơn hẳn.
Tường An Xuân cuống cuồng nhảyót lên phi thuyền:
- Đại nhân cứ ở đây chờ một lát, xin cho phép hạ quan đi tìm Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương.
- Đi cùng luôn. Triệu Hưng cũng lanh lẹ nhảy phắt lên phi thuyền.
Địa hình lục đảo rất rộng lớn, còn lớn gấp mười lần một huyện lớn như Cốc Thành.
Nhưng phần lớn là chốn hoang dã, địa kính ở vùng hoang dã không thể dùng được, bù lại các tư nông cũng có phương thức liên lạc riêng của họ.
Đó chính là Vân Pháp.
Tường An Xuân vừa nhảy lên phi thuyền không lâu liền vươn tay chỉ thẳng lên bầu trời.
Một tấm tiết khí lệnh bay vút lên cao, chiếu rọi bầu trời đang sẩm tối sáng bừng trở lại.
Đây chính là đảo ngược thiên thời. Ban ngày của ngày hôm nay sẽ dài hơn ban đêm một canh giờ.
Đến sáng ngày mai, chỉ cần thi triển thêm một lần tiết khí lệnh nữa, khiến trời sáng muộn hơn một canh giờ là có thể đưa thời gian trở về quỹ đạo chuẩn xác.
Cùng lúc đó, Tường An Xuân bắt đầu thi triển Vân Pháp.
Mây mù khắp bầu trời bắt đầu ngưng tụ thành một ký hiệu liên lạc.
Có mũi tên chỉ hướng, có quẻ vị phương hướng, thậm chí còn có cả chữ viết.
Đồng thời, Tường An Xuân dùng phong pháp truyền âm đi khắp bốn phương tám hướng, lớn tiếng gọi lớn tên hai người Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương.
Phạm vi Vân Pháp của y đã không hề nhỏ, nhưng vẫn chưa đủ rộng.
Đợi đến hai khắc sau, vẫn chẳng có chút hồi âm nào.
Khi Tường An Xuân điều khiển phi thuyền bay hơn nửa canh giờ để đến Thiên Mã Hồ, nơi lũ Thiên Mã hay tụ tập hoạt động, cũng chẳng thấy tăm hơi đâu.
Người cũng chẳng đáp lời.
Mà lúc này, sắc trời lại một lần nữa tối sầm xuống.
Tường An Xuân chỉ là một văn tư nông, pháp thuật có hạn, đã không thể gượng nổi việc tiếp tục nghịch chuyển đại thiên thế giới thiên thời nữa.
- Thế này thì phải làm sao đây, làm sao bây giờ chứ. Tường An Xuân bắt đầu lo sốt vó.
Hơn ba trăm con Thiên Mã chính là mạng sống của y, là hy vọng của y!
Bây giờ người lẫn ngựa đều biến mất tăm mất tích mà chẳng có lấy một lời nhắn nhủ, bảo y làm sao mà không nóng ruột cho được?
- Tường đại nhân, để ta đi. Thấy Tường An Xuân còn định cưỡng ép nghịch chuyển thiên thời thêm lần nữa, Triệu Hưng vội vàng ngăn y lại.
Cố nghịch thêm lần nữa, tên này sẽ tổn hại nguyên khí mất.
Tường An Xuân quay đầu liếc nhìn Triệu Hưng, đoạn bán tín bán nghi cất lời:
- Làm phiền Triệu đại nhân vậy.
- Đi!
Triệu Hưng vươn tay điểm một cái, tiết khí lệnh vút bay lên tầng trời cao.
Vù…
Tựa như một vầng thái dương mọc lên, dưới ánh mắt kinh hãi của Tường An Xuân, toàn bộ hòn đảo Song Tử như được thắp sáng rực rỡ.
- Biến đêm thành ngày, đảo ngược tận ba canh giờ… Đây chính là nghịch chuyển thiên thời lần thứ hai cơ đấy. Tường An Xuân hoàn toàn bị chiêu này của Triệu Hưng làm cho chấn động. - Pháp thuật của Triệu đại nhân quả thực quá đỗi lợi hại.
- Dù sao ta cũng là quân tư nông mà. Triệu Hưng khiêm tốn đáp. - Chỉ biết thêm có một chút xíu thế thôi.
Tường An Xuân mang hàm chính lục phẩm, Triệu Hưng cũng là chính lục phẩm, theo lẽ thường dù là quân tư nông hay văn tư nông thì khoảng cách giữa họ cũng chẳng thể lớn đến thế.
Nhưng Triệu Hưng là kẻ nổi bật trong hàng ngũ quân tư nông, bản thân hắn ở trong quân tư nông đã là tỷ lệ mười vạn chọn một. Đem ra so sánh với Tường An Xuân thì khoảng cách ấy lại càng thêm cách biệt.
Cao thủ ra tay, biết ngay thực lực thế nào.
Tường An Xuân thấy Triệu Hưng có thể dễ dàng nghịch chuyển lần thứ hai ngay trên vùng trời mà y từng nghịch chuyển trước đó, lại còn kéo dài thêm được ba canh giờ, thực lực chắc chắn vượt xa y một cách khủng khiếp.
- Thiên quang rực sáng thế này, chắc hẳn Lăng đại nhân và Tào đại nhân sẽ biết có người đang tìm họ rồi.
- Tường đại nhân, Vân Pháp này cứ để ta lo đi, phạm vi của ta rộng hơn một chút.
Lúc Triệu Hưng thay thế tấm tiết khí lệnh thiên thời của Tường An Xuân, hắn cũng đồng thời tiếp quản luôn Vân Pháp trên bầu trời.
Thôn Vân Lĩnh Vực cuồn cuộn mây bay mây tản, không ngừng lan rộng ra ngoài, hoàn toàn nhìn không thấy điểm tận cùng.
Vân Pháp của Triệu Hưng lại một lần nữa khiến Tường An Xuân chấn động mạnh, bởi vì nó chẳng biết lớn gấp bao nhiêu lần so với của y!
Giữa quân tư nông và văn tư nông quả thực có khoảng cách lớn đến nhường này sao?
Tường An Xuân bắt đầu có chút hoài nghi nhân sinh.
- Tường đại nhân, không biết phù văn liên lạc của các ngươi là phiên bản mấy thế? Tường đại nhân?
Sau khi thi triển xong Vân Pháp, Triệu Hưng quay sang hỏi Tường An Xuân.
Hắn không rõ loại phù văn truyền tin của Long Mã Giám thuộc bản nào, bởi vì thói quen sử dụng ở mỗi địa phương mỗi khác.
Nhưng hắn gọi tới hai tiếng mà đối phương vẫn chẳng đáp lời.
Lão Tường mất một lúc lâu mới bừng tỉnh khỏi cơn chấn động:
- Ồ, là phiên bản thứ chín do Sùng Minh Phủ phát hành, chúng ta căn cứ vào địa hình thực tế mà có sửa đổi đôi chút, để ta nói cho Triệu đại nhân hay.
- Không cần kể hết đâu, ta nhớ rồi. Ngươi chỉ cần nhắc cho ta chỗ nào thay đổi là được. Ngón tay Triệu Hưng bắt đầu chĩa lên bầu trời múa bút vẽ vời.
Viết phù văn, quan sát vân đạo, những thứ này đều là môn học bắt buộc của quân tư nông.
Hướng thượng nhiệm trên đường đến thành Bổ Gi cấp thành, chính nhờ quan sát vân đạo trên bầu trời mà Triệu Hưng mới phát hiện ra đám người Sa tộc đánh úp thành trì của Trấn Hải Quân.
Phù văn lúc này chính là một phương thức truyền tải thông tin.
Dưới sự nhắc nhở của Tường An Xuân, Triệu Hưng rất nhanh đã vẽ ra từng đạo phù văn trên vòm trời.
Tường An Xuân xem đến mức ngây ngẩn cả người, bởi vì phù văn do Triệu Hưng vẽ vừa nhanh vừa đẹp, lại cực kỳ ngay ngắn quy củ.
Thêm vào đó, về mặt dung lượng truyền tải thông tin, Triệu Hưng cũng vượt trội hơn hẳn so với y.
Bởi vì bản thân Tường An Xuân không thể tạo ra màu sắc, nền trời có màu gì thì y chỉ có thể dùng màu sắc và ký hiệu của màu đó.
Nhưng trong tay Triệu Hưng, màu sắc của ký tự có thể tận dụng ánh sáng để tách ra thành ba màu cơ bản, sau đó tùy ý chuyển đổi theo ý muốn.
Dung lượng truyền tải thông tin lập tức được đẩy lên mức tối đa.
Tường An Xuân hoàn toàn không thể làm nổi điều này.
Đến lúc này y mới nhận ra, Long Mã Giám huyện Song Tử đã được giáng xuống một vị quân tư nông ghê gớm nhường nào.
Hắn chẳng cần phải có quan hệ gì với công chúa U Nhược, chỉ riêng thực lực bản thân thôi cũng đủ để giành được sự trọng dụng và tán thưởng của thượng quan rồi.
- Hắn đích thị là người nên ngồi vào vị trí chủ quan này. Tường An Xuân thầm nhủ, lòng y đã tâm phục khẩu phục việc Triệu Hưng đột ngột nhảy dù xuống đây.
- Tìm thấy rồi. Chỉ mười nhịp thở sau khi chống mây, Triệu Hưng đã tìm ra tung tích.
Bởi vì hắn cảm nhận có kẻ đang vẽ phù văn trên tầng mây của mình, chỉ cần ba đạo phù văn là các tư nông có thể xác định được tọa độ chính xác của đối phương.
- Tìm thấy rồi ư?! Tường An Xuân mừng rỡ khôn tả. - Ở hướng nào thế?
- Nhìn kìa. Triệu Hưng giơ tay chỉ định.
Tầng mây trên bầu trời lập tức hiện lên ba mũi tên chỉ hướng, tiết kiệm luôn cả công mở miệng hỏi của Tường An Xuân.
Sự chỉ dẫn bằng phù văn của Triệu Hưng chuẩn xác đến mức giống hệt như bản đồ định vị, dù là một kẻ ngốc đi nữa cũng tuyệt đối không thể đi lạc đường.
Có định vị rồi, mọi chuyện tiếp theo trở nên thuận lợi hơn nhiều.
Phi thuyền chở hai người chỉ mất chừng hai khắc là đã tìm thấy Lăng Nhược Tuyết.
- Hí… hí…
Khi Triệu Hưng và Tường An Xuân lái phi thuyền cập bến một hồ nước vô danh, trên bầu trời có hàng trăm con ngựa mọc cánh đang bay lượn.
Mặt hồ dưới đất cũng có cả ngàn con ngựa đang phi nước đại.
Trên trời dưới đất đâu đâu cũng là những đàn ngựa đủ màu sắc.
Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương thì đang đứng bên ngoài bầy ngựa, liên tục hô hoán cái tên Na Già.
- Na Già chính là tên của con Thiên Mã Vương. Tường An Xuân giải thích.
- Ồ, hóa ra là con Thiên Mã thất phẩm duy nhất kia à?
- Phải. Tường An Xuân đưa mắt nhìn quanh bốn phía. - Không biết nó đi đâu rồi, hạ quan chẳng thấy bóng dáng đâu cả.
- Chắc là ở đằng kia.
Triệu Hünst chỉ tay về phía một ngọn núi nhỏ.
- Con bé dường như tiến hóa rồi.
- Hả? Tiến hóa ư?
Tên Tường An Xuân nhìn theo, nhưng chỉ thấy một cái bóng lờ mờ.
Tuy nhiên, lời Triệu Hưng nói chẳng mấy chốc đã được kiểm chứng.
Khi họ đến sát bầy ngựa, Lăng Nhược Tuyết hớt hơ hớt hải nhảy phắt lên phi thuyền, lớn tiếng gọi:
- Súc thúc, là Na Già! Na Già tiến giai rồi!
Lăng Nhược Tuyết mang hàm Thiên Mã lệnh của cung Tạc Tuyền, cấp bậc là tòng thất phẩm thượng, nhưng trông cô ta có vẻ hãy còn rất trẻ.
- Nhược Tuyết, đây là Triệu đại nhân mới tới.
Tường An Xuân cất lời giới thiệu:
- Hai người trước chưa từng gặp mặt, nhưng ta đã từng nhắc đến với con rồi.
- Ồ, Triệu thúc ạ.
Giọng Lăng Nhược Tuyết ngọt lịm, suýt nữa khiến Triệu Hưng hộc máu tươi.
Mới gặp lần đầu, sao tự dưng hắn lại thành ông chú từ lúc nào không hay?
- Nhược Tuyết, không được vô lễ.
Tường An Xuân nén cười, nhắc nhở:
- Triệu đại nhân năm nay mới hai mươi tư tuổi, còn nhỏ tuổi hơn con đấy.
- Hả?
Lăng Nhược Tuyết ngẩn người, hồ nghi hỏi:
- Thế chẳng phải con không phải là người trẻ nhất ở Long Mã Giám nữa sao?
Tường An Xuân vô cùng đau đầu trước cô nhóc ngây thơ này. Điểm chú ý của con bé lúc nào cũng kỳ quái như vậy.
Triệu Hưng cũng chẳng để bụng, cười nói:
- Lăng đại nhân, chuyện khác có thể từ từ bàn sau, trước tiên hãy nói rõ tình hình hiện tại đã.
- Dạ dạ.
Lăng Nhược Tuyết lại hào hứng hẳn lên:
- Chuyện là thế này, ban nãy con định lùa Na Già và đàn ngựa trở về, rồi thì...
Qua lời kể huyên thuyên của Lăng Nhược Tuyết, cuối cùng Triệu Hưng cũng hiểu nguyên nhân vì sao họ mãi không chịu về.
Hôm nay, trong lúc thả cho bầy ngựa ra ngoài vận động, ngựa vương Na Già đã chạm trán với một đàn ngựa lửa trên đảo Lục.
Ngựa lửa vốn là giống ngựa hoang được thả rông ngoài tự nhiên.
Trải qua bao năm tháng, chúng sinh sôi nảy nở và sống ẩn mình trong những hang động ngầm dưới lòng đất nên không ai hay biết.
Chúng cũng may mắn tránh được kế hoạch nuôi ong tay áo của vị tư nông theo đường lối cấp tiến đời trước.
Không biết từ lúc nào, trong đàn ngựa lửa ấy đã xuất hiện hơn hai trăm con đã bước vào hàng ngũ nhập phẩm!
Trong số hơn hai trăm con ngựa lửa ấy, cũng đã sinh ra một con ngựa vương mang phẩm chất thất phẩm.
Đại lục một rừng không thể có hai hổ, cũng như một nơi không thể có hai vị vương.
Na Già trong lúc đi dạo đã phát hiện ra ngựa vương của đàn ngựa lửa, và đối phương cũng nhìn thấy nàng.
Thế là hai con ngựa vương lập tức dẫn dắt bầy đàn của mình lao vào hỗn chiến.
Hơn nữa, con ngựa vương của đàn ngựa lửa đã đột phá lên lục phẩm từ trước đó không lâu.
Tuy nhiên, thiên mã Na Già mang dòng máu cao quý hơn loài ngựa lửa.
Dù chỉ là thất phẩm đối đầu với lục phẩm, nàng cũng quyết không cúi đầu chịu khuất phục. Trước sự khiêu khích của ngựa vương ngựa lửa, nàng liền phớt lờ tiếng gọi của Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương, đuổi theo đối phương vào sâu trong đảo.
Con đầu đàn đã chạy, đám thiên mã phía sau cũng rồng rắn bay theo.
Cứ thế, hai người bọn họ đuổi mãi đến tận giờ tuất mà vẫn không về, ngược lại càng lúc càng đi xa, lấn sâu vào tận trung tâm đảo Lục.
- Tường thúc, Triệu... Triệu đại nhân, con ngựa lửa kia vô cùng xảo quyệt! Nó giả vờ đánh không lại để lừa Na Già sập bẫy, mục đích thực sự là muốn dụ con bé về làm vợ ngựa đấy ạ!
Lăng Nhược Tuyết hớt hải bẩm báo:
- Đến nơi rồi Na Già mới phát hiện mình bị lừa nên vô cùng tức giận, bèn dẫn bầy ngựa phản công quyết liệt. Trong trận chiến ấy, Na Già thế mà lại đột phá lên lục phẩm!
- Quả là một phát hiện lớn.
Tường An Xuân mừng rỡ hớn hở:
- Cung Hỏa Liệt đã bị niêm phong suốt năm năm, ta cứ ngỡ bọn chúng đã tuyệt chủng hoàn toàn rồi chứ.
- Phải đấy, chúng ta thật có phúc lớn.
Lăng Nhược Tuyết cười khúc khích:
- Triệu đại nhân cũng gặp may nữa, vừa đến đã gặp ngay chuyện tốt thế này.
Triệu Hưng nghe vậy cũng bật cười. Những lời nịnh nót của Lăng Nhược Tuyết tính ra lại chẳng sai chút nào.
Vận khí ngũ hành sinh năm của hắn mang lại, sự ra đời của hai con ngựa lục phẩm này e rằng có liên quan mật thiết đến hắn thật.
- Chỉ có điều, bây giờ Na Già lại tiếp tục đánh nhau với bầy ngựa lửa, không chịu nghe lời chúng con nữa.
Lăng Nhược Tuyết mặt mày tiu nghỉu:
- Tường thúc và Tào thúc gọi thế nào nó cũng chẳng thèm về, mà tụi con lại không có cách nào khuất phục con ngựa lửa kia mà không làm tổn thương Na Già. Tường thúc, người mau qua đó gọi Na Già về đi, không khéo bầy ngựa lại có thương vong mất.
- Được.
Tường An Xuân gật đầu, lập tức tung người bay vút về hướng của Na Già.
- Na Già! Mau về đây!
Tường An Xuân vốn dĩ có tốc độ không hề chậm. Sau khi rút ngắn khoảng cách, hắn ta nhanh chóng nhìn thấy bóng dáng của thiên mã Na Già.
Đó là một con thiên mã mang bộ lông thuần một sắc xanh biếc, đôi cánh cũng một màu xanh, duy chỉ có phần đuôi vẫn còn vương lại vài sợi lông khác màu.
Nàng vừa mới hoàn thành quá trình tiến giai, toàn thân tỏa ra thứ ánh sáng u uẩn mờ ảo.
Dưới móng ngựa cuồn cuộn những luồng gió xanh, đôi cánh giương cao rộng mở, Na Già đang liên tục tung ra những loạt lông vũ sắc bén nhằm thẳng về phía ngựa vương của đàn ngựa lửa.
Vù vù vù vù vù!
Vô số chiếc lông vũ tựa như ngàn mũi tên xé gió lao đi, nhờ có sức mạnh của phong hành gia trì nên tốc độ nhanh đến mức mắt thường không thể bắt kịp.
Chéng chéng chéng!
Ngựa vương của đàn ngựa lửa ngẩng cao đầu tung vó, lớp bờm trên cổ lập tức bùng cháy một ngọn lửa dữ dội, trong chớp mắt đã thiêu rụi toàn bộ số lông vũ màu xanh thành tro bụi.
Ngay sau đó, nó quất mạnh chiếc đuôi, khạc ra một luồng hỏa diễm nhắm thẳng về phía thiên mã.
Ngọn lửa ngưng tụ thành một đường thẳng, thiên mã Na Già vội vã vung đôi cánh dựng lên đỡ lấy, nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, nàng liền nhận ra mình đã bị lừa.
Ngọn lửa do ngựa lửa phun ra chỉ kéo dài đúng ba tấc rồi lập tức thu hồi về.
Hí, hí hí hí!
Con ngựa lửa nhếch mép cười nham nhở, đứng trên đỉnh núi phát ra những tiếng kêu như đang buông lời châm chọc vô cùng lạnh lùng.
- Na Già! Về đây!
Tường An Xuân lại cất giọng gọi lớn thêm lần nữa.
Na Già ngoái đầu nhìn lại một cái, nhưng rồi lại tiếp tục lao bổ về phía ngựa vương ngựa lửa.
Nàng cảm thấy bản thân đang bị trêu ngươi và sỉ nhục.
Vút!
Thiên mã Na Già nhún mình nhảy vọt lên, né tránh chiếc vòng pháp thuật của Tường An Xuân, lao thẳng tới chỗ ngựa vương.
- Sau khi tiến giai, thực lực của Na Già tăng vọt, chỉ riêng việc đuổi theo tốc độ của con bé thôi mà ta cũng đã thấy rất miễn cưỡng rồi đây này.
Tào Cương xuất hiện bên cạnh Tường An Xuân, lúc này nét mặt hắn ta vừa mừng rỡ lại vừa chán nản.
Mừng vì Na Già đã đột phá, mà chán nản là vì sau khi tăng cấp, con bé chẳng thèm nghe lời bọn họ nữa, trong khi bản thân hắn lại bất tài vô dụng, không có khả năng kiềm chế Na Già mà không làm tổn thương đến nàng.
- Cứ đánh tiếp thế này thì chỉ có lưỡng bại câu thương, chúng ta ra tay giúp Na Già đuổi con ngựa vương đó đi trước đã.
Tường An Xuân nói.
Hí!
Đúng lúc ấy, lại một tiếng hí vang dội và hùng hồn của tuấn mã từ phía xa truyền đến.
Cả thiên mã Na Già lẫn ngựa vương ngựa lửa đều ngẩn người ra trong chốc lát.
Hí hí hí!
Ngựa vương ngựa lửa lập tức cảm nhận được sự khiêu khích, những chiếc móng ngựa điên cuồng cào cấu vào hư không.
Trong ánh mắt của Na Già lại ánh lên vẻ tò mò, nàng ngoảnh lại đưa mắt đánh giá chiếc phi thuyền đang đậu phía sau.
Lăng Nhược Tuyết trân trân mở lớn hai mắt, nhìn Triệu Hưng với vẻ mặt đầy khó tin:
- Triệu đại nhân, rốt cuộc ngài làm thế nào mà tác động được đến Na Già vậy?
Thứ mà Triệu Hưng vừa thi triển chính là Vạn Thú Chân ngôn Thiên Mã. Lúc này hắn đang phát ra âm thanh thuần túy của loài thiên mã để giao tiếp với Na Già.
Nhưng chỉ qua hai tiếng, âm thanh ấy lại chuyển hóa thành tiếng của ngựa lửa, khiến Na Già rơi vào trạng thái mơ hồ trong chốc lát.
Bởi vì nàng cảm thấy dường như có sự xuất hiện của một vị ngựa vương khác, hơn nữa khí tức của con này cường tráng hơn hẳn, lại có vẻ ôn hòa chứ không thô bạo như con ngựa hoang chỉ biết dùng vũ lực đòi giao phối kia.
- Na Già!
Tường An Xuân bay vọt lên lưng Na Già, nhanh chóng khống chế rồi cưỡi nàng quay trở lại.
Về phần con ngựa lửa, sau khi hầm hừ phát ra hai tiếng uy hiếp hướng về phía Triệu Hưng, nó thế mà lại chủ động từ bỏ ý định tấn công, dẫn đầu bầy ngựa lửa phía dưới bắt đầu rút lui.
Bởi vì nó đã cảm nhận được một mối đe dọa thực sự.
- Triệu đại nhân, không thể để bầy ngựa lửa này chạy mất được.
Tường An Xuân kích động nói:
- Có thêm hơn hai trăm con ngựa lửa này trong tay, Long Mã Giám của chúng ta coi như có thêm hy vọng lớn rồi, đây chính là một trong những giống ngựa thích hợp nhất để làm chiến mã đấy!
- Được, hai người cứ ở đây chờ ta.
Triệu Hưng tung mây bay vụt đi.
Con súc sinh này quả nhiên vô cùng ranh mãnh, ban nãy hắn còn tưởng đã dụ được nó cắn câu rồi cơ chứ.
Nào ngờ con ngựa vương ngựa lửa kia chỉ làm bộ lao lên tấn công một nhát rồi lại quay đầu bỏ chạy.
Nhưng mà, muốn trốn thoát ngay trước mặt Triệu đại nhân đây sao?
- Gió tới!
Triệu Hưng ngự giá Cửu Tiêu Cương Phong, nhanh chóng phóng đi đón đầu ngựa vương.
- Tốc độ của Triệu đại nhân nhanh quá vậy!
Lăng Nhược Tuyết không kìm được mà kêu lên kinh ngạc:
- Ngài ấy còn bay nhanh hơn cả ngựa lửa nữa kìa.
- Lão Tường, vị này chính là Tân nhiệm Tả Tư chính Triệu Hưng mà ông từng nhắc đến à?
Tào Cương cất tiếng hỏi.
- Ừ.
Tường An Xuân gật đầu. Khoảng thời gian trước Triệu Hưng vẫn đang bế quan, mọi công việc sự vụ đều giao phó cho hắn ta xử lý.
Thảo nào mà Triệu Hưng vẫn chưa từng có dịp gặp mặt Lăng Nhược Tuyết và Tào Cương.
- Thực lực của người này quả thực không tồi chút nào.
Tào Cương đưa mắt nhìn về phía trước.
- Không tồi cái nỗi gì, phải gọi là khủng bố mới đúng.
Tường An Xuân tiếp lời:
- Triệu đại nhân xuất thân từ Quân Tư nông, nhưng ta đâu phải chưa từng tiếp xúc với Quân Tư nông bao giờ, ngài ấy hoàn toàn khác biệt với những người ta từng gặp, lợi hại hơn rất nhiều lần!
- Ồ? Lợi hại ở điểm nào chứ?
Tào Cương truy vấn.
- Cậu nhìn đám mây trên bầu trời kìa, đó là do ngài ấy tung ra đấy, hơn nữa ngài ấy đã bắt đầu thi triển từ cách cung Tạc Tuyền tận hai mươi dặm rồi!
- Cái gì?
Tào Cương giật nảy mình:
- Nơi này cách cung Tạc Tuyền ít nhất cũng phải trăm dặm, ông nói vậy chẳng khác nào phạm vi bao phủ mây pháp của ngài ấy ít nhất phải vượt quá tám mươi dặm sao?
- Đúng vậy.
Tường An Xuân gật đầu xác nhận.
- Làm sao có thể như thế được!
Tào Cương cảm thấy thật hoang đường:
- Làm gì có chuyện đạo pháp mây mưa của một vị lục phẩm tư nông lại có thể bao phủ một khoảng cách xa đến thế!
Hơn tám mươi dặm đấy nhé, mà đó mới chỉ tính khoảng cách theo đường thẳng, trên thực tế các pháp thuật về mây đều lấy người thi pháp làm trung tâm.
Nói cách khác, con số tám0 dặm này rất có thể chỉ là bán kính!
Diện tích mây pháp với bán kính tám mươi dặm ư?
Đơn giản là vô cùng đáng sợ!
- Cậu không tin á?
Tường An Xuân chỉ tay lên trời:
- Nếu không tận mắt chứng kiến, đến ta đây còn chẳng tin nữa là.
- Ngài ấy không chỉ có đạo pháp về mây lợi hại đâu, Tiết khí lệnh cũng cao thâm khó lường nữa. Trước đây khi ta đảo ngược thiên thời, chỉ kéo dài được vỏn vẹn một canh giờ.
- Nhưng ngài ấy lại một lần nữa đảo ngược lại ngay trên vùng thiên thời do chính ta thi triển!
- Cậu nhìn độ sáng này xem, có phát hiện ra ngài ấy đã nghịch chuyển bao nhiêu canh giờ không?
Tào Cương cẩn thận cảm nhận một hồi, lập tức chấn động tâm can:
- Cái này... Giờ Dậu mà bị đẩy ngược lại thành giờ Ngọ rồi ư?
- Đúng thế, cảm giác của ta cũng là giờ đó.
Tường An Xuân đáp:
- Nói cách khác, phải qua giờ Tý thì trời mới tối hẳn được.
- Một vị lục phẩm quân tư nông mà lại sở hữu thực lực kinh khủng nhường này, đúng là khó lòng tin nổi.
Cả Tào Cương và Tường An Xuân, hai vị văn tư nông kỳ cựu này hoàn toàn không tài nào tưởng tượng nổi giới hạn thực lực của Triệu Hưng.
Trong nhận thức của họ, đó là chuyện bất khả thi, thế nhưng Triệu Hưng lại làm được một cách nhẹ nhàng bâng quơ.
Lăng Nhược Tuyết thì chẳng rõ những gì hai người họ đang bàn tán kinh ngạc ra sao, bởi vì vốn dĩ nàng ta chỉ biết một ít về thiên thời pháp, Tiết khí lệnh lại càng không tinh thông.
Tuy nhiên, nàng ta rất nhanh đã tự mình nhìn ra được đáp án.
- Tường thúc, Tào thúc, hai người mau nhìn kìa, Triệu đại nhân đã đuổi kịp con ngựa lửa rồi!
Lăng Nhược Tuyết hào hứng chỉ tay:
- Cương phong của ngài ấy đã trực tiếp chặn đứng đường đi của đàn ngựa lửa, tốc độ của bọn chúng chậm hẳn lại kìa!
Tào Cương và Tường An Xuân vội vàng nhìn theo hướng tay chỉ.
Dãy núi phía trước bỗng nhiên xuất hiện một bức tường gió màu xanh biếc.
Bức tường gió cao trăm trượng, tựa như có người đã bứng cả tầng cương phong trên chín tầng trời xuống giáng xuống hạ giới.
Nó sừng sững chắn ngang ngay trước mặt ngựa vương ngựa lửa.
Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bức tường ấy, tốc độ của toàn bộ bầy ngựa lửa lập tức suy giảm nghiêm trọng.
- Đạo pháp về gió của ngài ấy cũng kinh hãi đến vậy sao?
Tường An Xuân và Tào Cương không kìm được mà hít một ngụm khí lạnh.
- Lão Tường, hắn ta thực sự không phải là ngũ phẩm chứ?
- Chuyện này thì ta biết hỏi ai...
Đúng lúc này, Lăng Nhược Tuyết lại hét hoác lên:
- Trới đất ơi, ngài ấy nhảy thẳng lên lưng con ngựa lửa rồi kìa! Thật là không thể tưởng tượng nổi!
Tường An Xuân và Tào Cương nghe xong thì đờ đẫn cả người.
Nếu như lúc nãy còn có thể biện minh rằng đó là khoảng cách chênh lệch giữa quân tư nông và văn tư nông.
Thì giờ đây, một vị pháp sư đường đường chính chính như Triệu Hưng lại trực tiếp phớt lờ sức nóng rực của ngọn lửa, cứ thế ngồi chồm hổm trên lưng ngựa lửa.
Thể phách của hắn ta rốt cuộc phải cường hoành đến mức nào chứ?
- Đây thực sự là một vị tư nông sao?