Chương 19: Chuẩn bị cho kỳ khảo hạch nhỏ
Trong bốn mùa có tám tiết lớn, cả tám đều là nội dung bắt buộc: Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hạ, Hạ Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông và Đông Chí.
Tùy tình hình từng quận, từng huyện, ít nhất cũng phải thi mười hai tiết. Với những quận huyện hạng nhất khắt khe nhất, cả hai mươi bốn tiết trong năm đều có thể bị đem ra khảo hạch.
Muốn được chuyển lên ngạch chính thức, phải vượt qua ba cửa: thành quả thu hoạch trong địa hạt, đánh giá đức hạnh và khảo hạch năng lực. Gộp cả ba lại gọi là kỳ bình xét mùa đông.
Sau đó còn phải qua một kỳ khảo hạch tại miếu. Nếu đỗ, người ấy mới được nhận vào làm quan, chính thức bước vào hệ thống triều đình vận dụng khí vận.
Trong ba cửa của kỳ bình xét mùa đông, phần khảo hạch năng lực dựa trên hai mươi bốn tiết khí chiếm tỷ trọng khá lớn.
Cửa này mà không qua, lại không được tiến cử thì đến kỳ khảo hạch tại miếu cũng chẳng có phần tham dự.
Những tiểu lại có chí chuyển lên ngạch chính thức hầu như không bỏ lỡ bất kỳ kỳ khảo hạch năng lực nào.
Buổi giảng đầu tiên của lão Tư nông Tiết sau khi trở lại viện Hòe Liễu thu hút rất đông tiểu lại đến thăm.
- Lão Tiết, sức khỏe ngài đã khá hơn chưa?
Lão Tư nông mỉm cười đáp:
- Ta không còn gì đáng ngại.
- Thưa thầy, con có một củ địa hoàng tinh trăm năm tuổi, xin thầy nhận cho.
- Ta xin nhận tấm lòng, con mang về đi.
- Lão Tiết…
Không chỉ tiểu lại dưới quyền Tiết Văn Trọng, người ở các viện khác cũng lũ lượt kéo đến thăm.
Họ đến đâu phải vì lòng tốt, mà cốt để nghe giảng.
Hai kỳ khảo hạch Tiểu Thử trước đều do Trần Thời Tiết ra đề. Kỳ Lập Thu lần này và kỳ kế tiếp, đến lượt Tiết Văn Trọng phụ trách.
Một tiểu lại bạo miệng hỏi:
- Thưa Tiết Tư nông, kỳ Lập Thu này ngài không ra đề hiểm hóc như Trần đại nhân, làm khó chúng con đấy chứ? Nếu lại có đề “chim ăn thóc gây thiên tai” thì năm nay huyện Cốc Thành e chẳng ai đỗ nổi.
- Phải đấy, miền Nam chúng ta lấy đâu ra chim cu gáy?
Câu hỏi khiến mọi người cười ồ. Đổi sang vị Tư nông khác, e chẳng tiểu lại nào dám đùa cợt như vậy. Nhưng Tiết Văn Trọng vốn nổi tiếng hiền lành, tính tình ôn hòa, giờ giảng lúc nào cũng thoải mái, nên mọi người mới dám nói năng bạo dạn.
Lão Tư nông hỏi:
- Các con đều muốn biết kỳ Lập Thu sẽ thi gì à?
Mọi người vươn cổ, dỏng tai lên:
- Phải đó, lão Tư nông, ngài nói cho chúng con biết đi!
Tiết Văn Trọng mỉm cười:
- Đến ngày Lập Thu, tự khắc sẽ biết.
- Ôi chao…
Bên dưới lại vang lên một tràng cười.
Lời đáp nghe chẳng khác nào nói cho có, nhưng Triệu Hưng lại thích bầu không khí này. Hắn từng sang viện khác ngồi nghe giảng. Nơi thì cứng nhắc nghiêm trang, nơi lại giảng sâu đến khó hiểu, cứ lấy mấy người có trình độ cao nhất làm chuẩn, chẳng hề nghĩ đến số đông.
Thấy sắc mặt Tiết Văn Trọng hồng hào, dường như bệnh tình đợt trước đã khỏi hẳn, hắn cũng yên tâm hơn. Chỉ có đôi mày lão Tư nông vẫn vương nét ưu tư, như đang chất chứa tâm sự.
Buổi giảng ở tiền viện kết thúc, Triệu Hưng theo lệ sang hậu viện luyện thêm riêng.
Thấy hắn còn xách đồ trên tay, Tiết Văn Trọng lập tức sa sầm mặt:
- Đến con cũng bắt chước người ta mang quà biếu à?
Triệu Hưng đặt ba con vịt đã buộc gọn vào chuồng gia cầm sau viện:
- Đây đâu phải quà biếu. Thầy quên rồi sao? Hôm trước con luyện thuật làm rối cỏ bước đi, đuổi một con vịt của thầy bay mất. Con đã bắt nó về đây.
Tiết Văn Trọng chỉ ba con vịt:
- Thế sao lại có ba con?
Triệu Hưng nghiêm trang đáp:
- Chắc con vịt ra ngoài lang thang mấy ngày, tìm được bạn đời rồi sinh thêm một con. Học trò vốn mềm lòng, không nỡ chia lìa cả nhà chúng. Con hỏi ý chúng rồi đưa cả nhà về đây.
Nghe hắn làm bộ đứng đắn bịa chuyện, Tiết Văn Trọng không nhịn được bật cười, mắng:
- Nói nhăng nói cuội!
Nụ cười ấy cũng là lời ngầm cho phép. Lão Tư nông hiểu Triệu Hưng muốn làm mình vui. Không phải kiểu nịnh nọt giữa cấp trên với cấp dưới, mà là sự quan tâm của thầy trò.
Triệu Hưng cũng cảm nhận được thái độ của Tiết Văn Trọng đã đổi khác ít nhiều kể từ ngày trở về.
Dù trò chuyện hay giảng dạy, hắn đều cảm thấy lão coi trọng thân phận người thầy hơn thân phận cấp trên. Đây là dấu hiệu tốt. Chuyện trước kia rốt cuộc đã xảy ra thế nào, nếu lão Tư nông không nói, hắn cũng chẳng hỏi thêm, kẻo chạm vào nỗi đau của người ta.
- Lập Thu là lúc mùa thu bắt đầu. Trời vẫn còn nóng gay gắt, nhưng dương khí đã dần lắng xuống, âm khí dần dâng lên. Đây là bước chuyển từ lúc dương thịnh sang lúc âm thịnh. Cây cối từ xanh tốt sum suê cũng dần chuyển sang kết hạt, chín mùa.
- Mưa gió và khí hậu rồi cũng sẽ đổi chiều, cây trồng chịu ảnh hưởng không nhỏ.
- Sách Tứ Nông từng viết: “Thu về âm khí mới buông, muôn loài thu lại, cất nguồn tinh hoa.”
Buổi luyện tập sắp kết thúc, lão Tư nông bỗng giảng một đoạn như vậy.
Triệu Hưng thoáng ngẩn ra, rồi gật đầu cáo từ.
Trên đường về nhà, hắn ngẫm đi ngẫm lại lời lão Tư nông.
“Ba lần nhắc đến chuyện cây cối chín mùa. Xem ra kỳ khảo hạch Lập Thu sẽ liên quan đến việc vun trồng cây cối.”
“Mấy ngày này phải luyện phép vun trồng cho thật chăm mới được.”
Về đến nhà thì đã quá giờ cơm. Triệu Thụy Đức không thấy đâu. Bà Thái trông thấy tên quỷ ăn khỏe này trở về, chẳng buồn tỏ vẻ tử tế, lập tức quay vào nhà.
Triệu Hưng cũng chẳng bận tâm, tự xuống bếp tìm đồ ăn. Triệu Chính lại chạy từ phòng mẹ ra, hớn hở giúp anh cả xới cơm, bưng thức ăn.
- Anh cả, hôm nay em luyện võ suốt hai canh giờ, cha còn khen em nữa!
Triệu Chính ngước mắt nhìn Triệu Hưng, vẻ mặt đầy mong đợi.
- Khá lắm, cố gắng thêm.
Triệu Hưng đáp qua quýt rồi tự ăn.
Mới ăn được vài miếng, hắn đã thấy mùi vị không ổn:
- Sao cơm canh hôm nay chẳng ngon bằng tối qua?
Triệu Chính ngạc nhiên:
- Sao lại thế được, anh cả? Đây chính là đồ ăn tối qua mà.
Triệu Hưng cứng họng.
Triệu Chính nói tiếp:
- Mẹ bảo anh là quỷ ăn khỏe, món gì cũng ăn được, lại ăn nhiều, nên mới để dành cho anh một ít. Mẹ còn chưa khen em như vậy bao giờ!
Triệu Hưng không biết nói gì.
Hay lắm, thay ta cảm ơn mẹ đệ nhé.
Hắn ngửi thử. Trời nóng thế này mà thức ăn vẫn chưa ôi, chỉ có mùi vị hơi lạ. Triệu Hưng cũng mặc kệ, nhắm mắt ăn ngấu nghiến.
Triệu Chính tò mò hỏi:
- Anh cả, quỷ ăn khỏe là gì? Anh đã gặp quỷ bao giờ chưa? Em nghe nói người biết phép thuật có thể nhìn thấy ma, còn mời thần về được nữa, giống mấy người chủ lễ trong miếu thần ấy.
Triệu Chính cứ quấn lấy hắn hỏi hết chuyện này đến chuyện khác.
- Lớn lên đệ sẽ hiểu. Được rồi, dọn bát đũa đi, rồi đi chơi.
- Dạ…
Đuổi cậu em trên danh nghĩa đi rồi, Triệu Hưng về phòng vẽ bùa. Bùa dẫn khí và bùa an hồn của hắn đã thuần thục hơn nhiều trong hơn một tháng qua, nhưng Học cung Đại Mộng vẫn chẳng có động tĩnh gì.
“Xem ra phải tiến bộ vượt bậc hơn nữa, ta mới moi được lợi ích từ đó.”
Một lần nữa, hắn vào núi báu mà tay không trở về. Nhưng Triệu Hưng không vội, hắn còn mấy trăm năm để từ từ đào bới.
Nhớ lời nhắc ban ngày của lão Tư nông, Triệu Hưng lấy ba cuốn sách trong tủ ra.
“Bản Thảo Kinh, Đại Quan Mộc, Bách Vật Cương. Cả ba đều ghi chép cách nhận biết cây cối, có khi sẽ hữu dụng trong kỳ khảo hạch Lập Thu. Tốt nhất vẫn nên ôn lại.”
“Triều đình truyền phép thuật qua các loại sách vở. Những sách ấy đều có chỗ kỳ diệu. Dù không mạnh bằng miếu thần, người đọc vẫn có thể ngộ ra phép thuật.”
“Hy vọng lần này lĩnh ngộ được vài phép có ích.”
Thắp đèn dầu lên, Triệu Hưng bắt đầu chăm chú đọc sách.