Nói thật, đồ đạc chất trong ngõ chẳng có bao nhiêu. Đặng Khẳng chỉ có một mình, dù đã mua sẵn chiếc xe đạp để chở hàng thì mỗi chuyến cũng chỉ mang được đến một lượng nhất định. A Y phản ứng như thế, hắn hiểu ngay.
Con chim này đang mặc cả, muốn được thêm một mẻ khoai tây chiên.
Nghĩ theo cách nào đó, con chim này dễ hiểu thật.
- Ngươi biết đây là thứ gì không? Đặng Khẳng nắm con bồ câu, đưa nó đến trước một giỏ khoai tây. - Thứ này gọi là khoai tây, cũng có người gọi là củ tây.
A Y chớp đôi mắt đen láy, nhìn chằm chằm giỏ khoai hồi lâu. Chẳng ngờ nó thật sự hiểu ra, lập tức rướn cổ lên:
- Thơm quá! Thơm quá!
- Biết vậy là được. Lo làm việc cho đàng hoàng, cả giỏ này đều dành cho ngươi đấy. Chỗ khoai chiên làm ra đủ khiến ngươi no căng đến chết mấy chục lần. Đặng Khẳng cười hềnh hệch, tiện tay ném con bồ câu đi. - Mang đống này về tàu Thất Hương, cứ đặt lên boong là được. Ta sẽ chờ ngươi ở bên kia.
A Y vỗ cánh giữa không trung. Chưa kịp chạm đất, nó đã được một quầng lửa xanh lục bao bọc, hóa thành chim ma. Nó lượn quanh đống hàng hai vòng, rồi hàng hóa giữa ngọn lửa nhanh chóng nhạt dần, như thể sắp tan biến.
Thế nhưng nó chợt dừng lại. Đậu lên đống hàng, nghiêng đầu nhìn Đặng Khẳng, nó hỏi:
- Cần chỉ định bộ nhớ tiếp theo không?
Đặng Khẳng ngẩn ra một lúc mới hiểu con chim đang hỏi mình tiếp theo phải làm gì.
Hắn thầm càu nhàu. Vốn từ của con chim này quả thật vừa rộng vừa kỳ quặc, không chừng mọi thứ loài người trên Trái Đất từng nghĩ ra trên mạng đều nằm trong đầu nó. Chung sống với nó một thời gian, hắn cũng đoán được đại khái ý nó qua những câu nói kia. Nhưng phần lớn lúc giao tiếp, A Y cứ nói sát mép hiểu biết của hắn. Nó không thể học vài câu tiếng người bình thường hay sao?
Dù trong bụng càu nhàu, Đặng Khẳng vẫn gật đầu đáp:
- Ngươi cứ mang đống này đi trước. Ta còn phải mua thêm…
Lần này A Y thật sự bị dọa. Nó vút lên không trung, một khối lửa lớn lập tức cuốn sạch đống hàng dưới đất. Vừa nhanh chóng biến mất khỏi tầm mắt Đặng Khẳng, nó vừa oang oang kêu:
- Đáng sợ quá! Đáng sợ quá!
Đặng Khẳng chỉ nhún vai, quay sang chiếc xe đạp vừa mua.
Đó là một chiếc xe hết sức bình thường, khung đen, vành bánh với ghi đông ánh bạc, chuông xe mới tinh, giỏ trước cùng yên sau chắc chắn, tiện dụng. Nó chẳng có gì nổi bật, không thể gọi là đẹp nhưng cũng chẳng xấu. Ưu điểm lớn nhất có lẽ là chất lượng khá tốt.
Ban đầu, Đặng Khẳng định lựa cho Ni Na một chiếc xe nữ thật đẹp. Nhưng tìm một vòng khắp các cửa hàng ở khu hạ thành, hắn đành bỏ cuộc. Ở đây vốn chẳng có loại xe ấy.
Tại khu hạ thành, xe đạp chỉ là xe đạp. Nó giúp người ta đi lại, nhưng trước hết vẫn là công cụ lao động. Xe nào xe nấy gần như giống hệt nhau, chẳng chia thành xe nam, xe nữ, xe địa hình, xe đua hay đủ loại kiểu cách khác. Người cao thấp khác nhau có thể tự điều chỉnh ghi đông và yên xe cho dễ đạp. Ngoài ra, xe đạp chẳng có công dụng hay kiểu dáng riêng nào.
Dường như người bình thường ở thế giới này chẳng mấy ai dư dả để theo đuổi một cuộc sống cầu kỳ hơn.
Trong những thành bang của thời đại biển sâu, nhiều thứ rốt cuộc vẫn khác với “thế giới kia” mà Đặng Khẳng quen thuộc. Dù trông chúng có vẻ giống nhau, từng chi tiết nhỏ vẫn mang đậm nét riêng của thế giới này. Chính những chỗ giống mà không giống ấy luôn nhắc hắn nhớ mình đang ở nơi đất khách.
Hắn nhảy lên xe. Chiếc xe mới chạy nhẹ nhàng, dễ điều khiển, đưa hắn nhanh chóng rời khỏi con ngõ, hướng về khu phố buôn bán sầm uất cách đó không xa.
Ni Na sẽ thích chiếc xe này.
Rời khu phố Giao Thập Tự, đi về phía tây bắc, theo con đường dốc lên cao, người ta sẽ thật sự bước vào địa phận thượng thành. Dân thành Bang Phổ Lan Đức thường gọi nơi này là “ranh giới của cuộc sống đàng hoàng”, chứ không như khu Giao Thập Tự, nơi chỉ có thể xem là chỗ để “dân trung lưu làm bộ bề ngoài”.
Khác với hình dung ban đầu của Đặng Khẳng, dù Phổ Lan Đức có ranh giới hành chính phân chia rõ ràng giữa thượng thành và hạ thành, hai khu vực lại chẳng bị ngăn cách bởi vật cản nào. Từ hạ thành lên thượng thành, chỉ cần đi qua vài lối mở hoàn toàn. Ở đó có chốt của nhân viên trị an, nhưng rõ ràng họ không cấm dân hai khu qua lại.
Dĩ nhiên, ban ngày là thế. Theo những gì Đặng Khẳng dò hỏi được, khi đêm xuống, việc đi lại giữa hai khu sẽ bị kiểm soát nghiêm ngặt. Dù có giấy phép đi đường ban đêm, muốn vượt qua chốt gác giữa hai khu cũng phải làm thêm thủ tục.
Bây giờ vẫn là ban ngày, các lối đi thông suốt.
Đặng Khẳng đi thẳng vào thượng thành. Từ khi đặt chân đến thành bang này, đây là lần đầu tiên hắn ghé nơi đây.
Phải thừa nhận, thượng thành quả thật khác hẳn hạ thành.
Sự khác biệt hiện rõ ở gần như mọi mặt: đường sá sạch sẽ, rộng rãi hơn; nhà cửa cao lớn, bề thế hơn; thiết bị trong thành mới mẻ, hiện đại hơn. Đèn khí đốt và “nơi trú ẩn ban đêm” cũng nhiều hơn hẳn hạ thành.
Đặng Khẳng từ từ dừng xe trước một căn chòi nhỏ bên ngã tư.
Đây là nơi trú ẩn ban đêm, dành cho những người dân vì đủ loại nguyên do mà không kịp về nhà trước khi trời tối. Tấm biển trước cửa chòi ghi lời hướng dẫn ngắn gọn:
“Nơi trú ẩn ban đêm. Bên trong có đèn khí đốt, dầu thánh an thần và sách kinh Bão Tố. Sau khi vào, xin hãy khóa trái cửa, chờ người đến cứu viện. Đội tuần đêm có chìa khóa an toàn.”
Ở hạ thành, Đặng Khẳng cũng từng thấy những nơi tương tự. Nhưng gần như cả khu phố mới có một hai chỗ, trông lại cũ kỹ, loang lổ, chẳng biết còn dùng được không.
Hắn thôi nhìn tấm biển, đạp xe tiếp tục thong thả đi dọc con phố.
Thỉnh thoảng, ánh mắt hắn lướt qua những cửa hiệu hai bên đường. Những ô cửa kính sáng choang cùng cách bài trí thanh nhã, cầu kỳ bên trong khiến các cửa hàng ở hạ thành chẳng thể nào sánh bằng. Nhưng Đặng Khẳng để ý chúng không phải vì những chi tiết chẳng mấy quan trọng ấy.
Hắn còn phải mua rất nhiều thứ. Việc sắm sửa vật dụng cho tàu Thất Hương đã bị trì hoãn quá lâu. Hơn nữa…
Đặng Khẳng dừng xe trước một cửa hàng ven đường, ngẩng đầu nhìn lên, nét mặt thoáng hiện nụ cười.
Có những thứ không thể mua được ở hạ thành. Chỉ những “người đàng hoàng” ở thượng thành mới chịu bỏ nhiều tiền bạc và công sức vào những món chẳng liên quan gì đến chuyện sống còn, chẳng hạn như thứ trước mắt hắn.
Hắn khóa xe, bước tới đẩy cửa. Tiếng chuông lanh lảnh vang lên. Một bà lão mập mạp đang đọc báo sau quầy ngẩng đầu, mỉm cười thân thiện rồi đứng dậy chào:
- Chào mừng quý khách đến với Tiệm Búp Bê Hoa Hồng… Ồ, một quý ông. Ngài muốn chọn cho người thương hay con cháu một người bạn chăng?
- Tôi cứ xem qua đã.
Đặng Khẳng đáp gọn, rồi ngẩng lên tò mò quan sát cửa tiệm mang tên “Tiệm Búp Bê Hoa Hồng”.
Đập vào mắt hắn là đủ loại búp bê: tinh xảo, tao nhã, bí ẩn, đáng yêu, tinh nghịch…
Đứng ngoài phố, hắn đã nhìn thấy khung cảnh bên trong qua ô cửa kính. Nhưng chỉ khi bước vào, hắn mới nhận ra tiệm rộng hơn vẻ ngoài rất nhiều. Hầu như mọi chỗ mắt nhìn thấy đều bày đầy đồ liên quan đến búp bê. Ngay cả dưới cầu thang cũng chất đủ kiểu hộp đựng và giá đỡ, cùng những món phụ kiện lớn nhỏ và các “bộ thân” còn chờ lắp ráp.
Đây là cửa hàng chuyên bán búp bê cùng những vật dụng liên quan. Cách bài trí cổ điển, phảng phất vẻ tĩnh lặng và bí ẩn.
Trong tiệm búp bê rộng lớn ấy, chỉ có một bà lão trông hiền hậu coi hàng. Lúc này, khách khứa cũng chỉ có mình Đặng Khẳng.
Một cửa tiệm cổ kính bày kín búp bê, một bà lão tươi cười, một vị khách duy nhất.
Đặng Khẳng mải ngắm nhìn đủ loại búp bê. Còn bà chủ cửa hàng thì tò mò quan sát vị khách lạ.
Đàn ông ghé tiệm búp bê chẳng có gì hiếm. Những quý ông lịch thiệp ở thượng thành thường mua búp bê tinh xảo làm quà tặng người thương hoặc con cháu. Cũng có vài người vốn thích sưu tầm búp bê. Điều khiến bà lão chủ tiệm tò mò là bộ quần áo giản dị trên người vị khách này.
Đặng Khẳng mặc chiếc áo khoác cũ thường ngày. Trông hắn chẳng giống người giàu sống ở thượng thành, mà búp bê sưu tầm đâu phải món hàng rẻ tiền.
Nhưng bà lão chỉ liếc nhìn hắn một cái, rồi nhanh chóng dời mắt đi.
Đánh giá khách qua cách ăn mặc không phải phép lịch sự. Người buôn bán từng trải càng không nên nhìn bề ngoài mà phán xét khách. Hơn nữa, ai cũng có quyền ngắm hàng.
Sau khi nhìn quanh một hồi, Đặng Khẳng cuối cùng cũng rời mắt, khẽ thở ra.
Hắn phải nhận rằng mình đã bị cả rừng búp bê làm cho hoa mắt.
Nghề làm búp bê ở thế giới này phát triển hơn hắn tưởng. Đủ loại “phụ kiện” mà hắn thậm chí còn chẳng biết gọi tên đã vượt xa những gì hắn hiểu về búp bê.
Trong mắt hắn, búp bê chính là con thủy thủ vừa nhát gan vừa kém cỏi, cổ còn mắc bệnh, đầu óc lại chẳng sáng suốt.
Đặng Khẳng nhìn bà lão mập mạp, nghĩ bụng tốt hơn hết nên khiêm tốn hỏi người trong nghề đôi điều về búp bê, nhất là cách chăm sóc khớp và cấy tóc.
Nhưng vừa định mở lời, hắn bỗng sững lại.
Đặng Khẳng ngẩn người nhìn bà lão trước mặt. Bà lão nhanh chóng hiểu ra, mỉm cười chỉ vào tai mình:
- Tinh linh ở thành Bang Phổ Lan Đức quả thật hiếm gặp.
Đặng Khẳng: “…”
Hắn phải thừa nhận tinh linh ở thành Bang Phổ Lan Đức có lẽ thật sự rất hiếm. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời hắn gặp một tinh linh.
Nhưng điều khiến hắn sững sờ hơn cả là hắn không ngờ thế giới này lại có một bà lão tinh linh phát tướng…