Chương 5: Tam Hoa Nương Nương - Ta Vốn Vô Ý Thành Tiên

Trang chủ › Ta Vốn Vô Ý Thành Tiên › Chương 5

Chương 5 - Tam Hoa Nương Nương

☰ DS Chương 📖 2,613 chữ

- Tiểu thần là thần nhỏ nơi thôn dã này. Khi còn sống mang họ Vương. Xin hỏi tôn giá xưng hô thế nào?

- Tại hạ là Tống Du, sư phụ đặt tự là Mộng Lai.

- Tôn giá là người trong Đạo môn?

- Từ nhỏ tại hạ đã lớn lên trong đạo quán.

- Chẳng hay tôn giá đã có đạo hiệu chưa?

- Vẫn chưa có. Tống Du bình thản nhìn vị thần bản địa, hỏi: - Thiện Công tìm tại hạ có việc gì?

- Vậy tiểu thần xin gọi tiên sinh là Mộng Lai tiên sinh. Vương Thiện Công vẫn giữ thái độ khách sáo. - Đêm khuya quấy rầy giấc ngủ của tiên sinh, thật là đường đột. Nhưng việc này liên quan đến miếng cơm manh áo của dân chúng quanh đây. Tiểu thần thấy tiên sinh tu hành cao sâu, nên đặc biệt đến cầu viện.

- Thiện Công cứ nói thẳng.

- Chuyện này phải kể từ mười năm trước.

Vương Thiện Công ngẫm nghĩ giây lát rồi mới thong thả kể, đúng phong thái người thời trước:

- Mười năm trước, có một đại yêu đến vùng này, mê hoặc lòng người, còn khiến dân chúng địa phương dựng miếu thờ nó. Ngôi miếu ấy cách đây hai mươi dặm.

Tống Du nghe đến đó, gần như đã hiểu đầu đuôi.

Một người một thần nhìn nhau trân trân. Tống Du chờ ông nói tiếp, còn ông dường như lại chờ Tống Du hỏi han.

- Sao Thiện Công không báo lên trên?

- Xin tiên sinh nghe tiểu thần nói hết đã.

Tống Du đành lộ vẻ bất đắc dĩ.

Những vị thần âm ở địa phương phần lớn đều là người đức hạnh hơn người, sau khi chết mới hóa thành. Họ lại sống lâu năm, Tống Du là hàng hậu bối, dù sao cũng nên kính trọng đôi phần. Hắn còn trẻ, thật khó mở miệng chê trách thẳng thừng.

- Vậy tiểu thần xin nói gọn.

- Xin mời.

- Tuy đại yêu kia pháp lực cao cường, nhưng mấy năm trước đã bị trừ khử. Cao tăng chùa Thiên Hải cùng Chu Lôi Công hợp sức giết nó. Khi ấy, mọi người nghĩ ngôi miếu thờ tà ấy không cách đường lớn bao xa, phá đi thì uổng. Đập bỏ tượng đá, nơi đó còn có thể cho khách qua đường nghỉ chân, tránh mưa, nên mới giữ lại. Gần đây, tiểu thần đi tuần qua Mã Gia Loan, phát hiện trong ngôi miếu ấy chẳng biết vì sao lại có hương khói.

- Thiện Công đã đến tận nơi xem chưa?

- Hổ thẹn, hổ thẹn. Tiểu thần pháp lực thấp kém, lại không biết đánh nhau. Từ xa trông thấy khói hương đã chẳng dám đến gần.

Vương Thiện Công lộ vẻ xấu hổ.

- Thiện Công làm vậy là phải.

- Lần này tiểu thần muốn nhờ tiên sinh đến đó xem xét. Nếu quả thật có chuyện, chờ đến ngày rằm mấy hôm nữa, tiểu thần sẽ bẩm báo lên trên.

- Thiện Công nghi con yêu quái kia mượn hương khói sống lại?

- Tiểu thần nghĩ có lẽ là vậy.

- Ngày mai tại hạ sẽ đến xem.

- Phẩm hạnh tiên sinh cao đẹp, tiểu thần xin thay dân chúng quanh đây đa tạ. Vương Thiện Công lại cúi mình thật sâu, rồi nói tiếp: - Tu vi tiên sinh không tầm thường. Dẫu yêu quái kia có sống lại, e rằng cũng chẳng còn bản lĩnh như trước. Tiên sinh đi vào ban ngày, chắc không có gì đáng ngại. Chỉ phiền tiên sinh phải đi một chuyến. Địa chỉ tiểu thần đã viết trên giấy, đặt trước bàn thờ rồi.

- Thiện Công, tại hạ xin cáo từ.

Vương Thiện Công ngẩn ra, rồi mới cúi người đáp lễ.

Ông vừa khom lưng, chưa kịp đứng thẳng, cảnh vật xung quanh đã hóa thành khói mây, thoáng chốc tan biến. Trước mắt Tống Du cũng tối sầm lại.

Mở mắt ra lần nữa, hắn vẫn đang co mình trong góc miếu làng.

Ngôi miếu có cửa mà không có cửa sổ. Cánh cửa gỗ khép không kín, ánh trăng lọt qua khe hở, đổ một vệt trắng dài xiên trên nền gạch. Một hàng tượng thần thấp thoáng hiện ra.

Tiếng ngáy của đám khách giang hồ nối nhau vang lên.

Tống Du đứng dậy, tìm trên bàn thờ. Trước tượng Vương Thiện Công chẳng có tờ giấy nào, trái lại, hắn tìm thấy nó trước tượng Xích Kim Đại Đế.

Đó là giấy vàng thường dùng để vẽ bùa, chữ viết khá đẹp.

Tống Du cất tờ giấy, rồi lại ngắm nhìn hàng tượng thần.

Miếu làng vốn chẳng phân biệt Phật hay Đạo. Dân chúng không có tiền dựng riêng một ngôi cho mỗi bên, đành để các vị chen chúc với nhau, cũng mong họ đừng chê chật chội.

Ở chính giữa tất nhiên là Xích Kim Đại Đế, vị chủ thần của thiên cung Đạo giáo hiện thời, bên cạnh là đấng đứng đầu chư Phật của Phật giáo. Hai bên còn thờ những vị thần khác, phần lớn là các vị đang có tiếng tăm trong thời đại này vì đủ loại nguyên do.

Chẳng hạn trước kia có một quyển truyện kể được lưu truyền rộng rãi, trong đó nhắc đến thần sấm Chu Lôi Công. Thế là danh tiếng Chu Lôi Công trong lòng dân chúng tăng lên, tượng của ông ở nhiều ngôi miếu mới dựng, nhất là những ngôi do dân tự góp sức xây nên, cũng được đặt vào vị trí nổi bật hơn.

Chẳng biết bản thân ông có nhờ vậy mà được lợi gì không.

Thần linh phần nhiều phát triển, biến đổi như thế.

Kế đó là các vị thần bản địa. Nếu xét về địa phận và quyền hạn, có thần núi, thần sông, thần đường, thần làng, phần lớn đều do người hóa thành.

Người chết rồi, dân chúng vẫn nhớ thương họ. Nguyện lực tụ lại, tự nhiên giúp họ hóa thành thần. Triều đình phần nhiều cũng sẽ sắc phong cho họ một chức thần chính thống.

Thật ra trong thế giới này, dù là thiên cung của Đạo giáo hay Tây Thiên của Phật giáo, chư thần chư Phật được thờ khắp trời, trong lòng dân chúng, nhất là tín đồ, đều có địa vị cao quý. Nhưng về bản chất, họ chẳng khác gì những vị thần nhỏ nơi địa phương, nhờ nguyện lực mà thành.

Bởi vậy mới thường có cảnh triều đại đổi thay, thần linh cũng đổi thay.

Chẳng hạn như Xích Kim Đại Đế. Tương truyền ngài sinh ra từ thuở đất trời mới mở, tu hành trải qua một nghìn ba trăm năm mươi kiếp. Mỗi kiếp dài mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm, nhờ vậy mới chứng được ngôi Thiên Đế. Rất nhiều dân chúng tin lời ấy là thật. Ngay cả người không tin, phần đông cũng nghĩ từ xưa đến nay đã có người thờ ngài.

Nhưng thực ra danh hiệu của ngài chỉ mới xuất hiện gần hai trăm năm nay. Hai trăm năm trước, trên đời này chẳng có ai thờ ngài, thậm chí còn chưa ai biết đến danh hiệu ấy.

Trong lòng dân chúng, giữ gìn hình tượng thần linh cao quý là việc cần thiết. Nhưng sư phụ Tống Du từ nhỏ đã dặn hắn, người tu hành khác với dân thường, phải nhìn nhận các vị thần ấy cho sáng tỏ, cho đúng đắn.

Thế nhưng cái nhìn ấy rốt cuộc phải ra sao, sư phụ chưa từng nói cho hắn biết, chỉ bảo hắn tự mình tìm hiểu.

Hiện giờ Tống Du vẫn đang suy ngẫm.

Hắn mượn ánh trăng ngắm các pho tượng thật lâu. Nghĩ mãi cũng không ngủ được, hắn bèn xoay người, bước ra ngoài, đẩy cửa miếu.

Khí trời nửa đêm ập vào mặt. Hắn không thấy lạnh, chỉ cảm thấy trong lành. Ngẩng đầu nhìn lên, đêm quang mây tạnh, trăng sáng như bạc. Mấy cụm mây dường như cũng được viền một lớp bạc dưới ánh trăng, sáng lấp lánh. Dãy núi xa xa hiện lên thành những đường nét trập trùng, đẹp biết bao trong đêm trăng.

Tống Du cứ ngồi lặng dưới trăng như thế, cho đến khi rạng đông.

…

Tống Du rời khỏi đường Kim Dương, rẽ vào một con đường nhánh.

Đó cũng là đường lớn, chỉ không rõ tên gọi. Đường này thấp hơn quan đạo dành cho xe ngựa nối đến kinh đô như đường Kim Dương, nhưng vẫn rộng rãi.

Tống Du chẳng vội vàng gì. Hắn vừa đi vừa ngắm cảnh, dọc đường còn dừng lại hỏi đường vài lần, cuối cùng cũng tìm được ngôi miếu ấy.

Nói là cách đường lớn không xa, nhưng thật ra miếu nằm lưng chừng núi, ngay bên cạnh đường. Từ xa đã trông thấy, song đi bộ đến nơi chắc cũng mất hai dặm. Tống Du nghe Vương Thiện Công nói miếu không xa đường lớn, bèn cứ đi thẳng mãi theo đường, chẳng hay đã đi quá. Sau khi hỏi đường, hắn mới quay ngược lại.

Lúc đến nơi đã là buổi chiều.

Tống Du treo hành lý lên một cành cây, cách ngôi miếu chừng trăm mét, rồi men theo con đường nhỏ đi tới. Trông hắn chẳng hề có ý sợ hãi.

Vừa đến gần, hắn đã ngửi thấy mùi hương.

Quả nhiên trong miếu có khói hương.

Ngửi kỹ còn nhận ra đó hẳn là hương tự làm của dân địa phương, mùi giống dược liệu đuổi muỗi, thanh mát, dễ chịu.

Ngôi miếu đổ nát này lớn gần bằng ngôi miếu đêm qua. Kiểu dáng phỏng theo điện thờ trong những ngôi chùa chính quy, chỉ nhỏ hơn đôi chút. Nơi đây chỉ có một ngôi miếu đơn độc. Miếu do dân làng tự dựng thường có quy mô như vậy, ngày thường cũng chẳng có sư hay đạo sĩ ở lại trông nom.

Có điều nó đổ nát hơn ngôi miếu đêm qua nhiều.

Tống Du dừng ngoài cửa, chăm chú quan sát.

Miếu vẫn chỉ có cửa mà không có cửa sổ. Nhưng ngôi miếu này đến cánh cửa cũng chẳng còn. Thứ chắn ngang lối vào lúc này là một hàng rào tre đan. Tường vốn quét sơn đỏ, giờ bong tróc nhiều chỗ, đầy những vết nứt và sẹo. Có chỗ còn hằn vết dao chém, rìu bổ, sét đánh, lửa cháy, thậm chí có vết xuyên thủng cả tường.

Ánh mắt Tống Du lần theo những dấu tích ấy. Trong đầu hắn dần hiện lên cảnh tượng giao chiến năm xưa.

Hắn thu mắt lại, bước đến cửa.

Hàng rào chỉ khép hờ, đưa tay là mở được.

Tống Du bước vào miếu, hít một hơi sâu. Hắn không ngửi thấy mùi gì khó chịu, chỉ có mùi dược liệu trong loại hương tự làm kia.

Hắn ngẩng lên nhìn bàn thờ.

Tượng thần ngày trước đã mất từ lâu, chỉ còn dấu tích nơi pho tượng từng đứng. Giờ đây trên bàn thờ là một pho tượng mèo nặn bằng đất, nhỏ xíu so với pho tượng cũ cao ít nhất ngang người. Nó chỉ lớn cỡ một con mèo bình thường.

Phía trước đặt một cục đất vuông, cắm chi chít chân hương. Phần lớn đã cháy hết, chỉ còn ba nén đang cháy dở, cũng đã đến gần cuối.

Đúng là hương đất tự làm.

Loại hương gói giấy đỏ, bên trong là bột dược liệu cùng một que tre. Hương cháy rất lâu, mùi cũng dễ chịu.

Ngoài ra, trên bàn thờ còn bày cả đồ cúng.

Có thịt luộc và một con cá sống, thân rộng hơn một ngón tay.

Tống Du đứng giữa miếu, quay đầu nhìn quanh một lượt. Sau đó hắn bước đến trước bàn thờ, nhặt một sợi lông lên, đưa ra trước mắt ngắm thật kỹ hồi lâu rồi mới thả xuống. Hắn tìm một chỗ ngồi xuống.

Vị này hình như không ở trong miếu.

Đi ra ngoài làm việc công chăng?

Trước mắt hắn vẫn chưa thể xác định tình hình ra sao.

Có thể một con vật ở địa phương đã tu luyện thành tinh, thèm khát hương khói nơi trần thế, thấy ở đây có ngôi miếu nên chẳng biết nặng nhẹ, chiếm luôn làm của riêng.

Hương khói có sức mê hoặc chết người đối với tinh quái núi rừng.

Cũng có thể dân địa phương tự ý lập miếu thờ, vừa khéo một con mèo hoang trên núi lại lấy nơi này làm ổ.

Thời buổi này quả thật có nơi thờ mèo như thần, mong chúng bắt sạch chuột, giữ lại thêm ít lương thực trong nhà.

Cũng có thể con yêu quái năm xưa thật sự đã sống lại.

Tống Du đợi chừng một canh giờ. Mặt trời mỗi lúc một ngả về tây, ánh vàng từ cửa miếu chiếu vào, từng chút một lấn sâu vào trong. Vệt nắng sắp chạm đến chân hắn, khi ấy đang ngồi xếp bằng, thì bên ngoài cuối cùng cũng có động tĩnh.

Tống Du bình thản đứng dậy nhìn ra.

Một con mèo men theo đường nhỏ, chậm rãi bước trong nắng. Cỏ dại mọc hai bên đường cao chẳng kém nó, thường bị thân mình nó lách qua làm nghiêng rạp. Gặp rãnh đất, thân hình nó nhẹ bẫng như không có trọng lượng, chỉ khẽ nhảy một cái đã thanh nhã vượt qua.

Nó đã biết trong miếu có người từ lâu, nhưng chẳng hề dè chừng, vẫn nghênh ngang đi tới. Đến tận cửa, một chân trước đặt lên ngưỡng, nó ngẩng đầu nhìn vào trong. Thấy người bên trong mặc đạo bào, mắt nó chợt khựng lại, lúc này mới dần tỏ vẻ cảnh giác.

Nó nhìn trái, ngó phải.

Ngẫm nghĩ, cân nhắc.

Chân trước đặt trên ngưỡng cửa rụt về rồi lại đặt lên. Cuối cùng, nó vẫn quyết định bước vào.

Con mèo nhẹ nhàng vượt qua ngưỡng cửa, ngẩng đầu nhìn Tống Du. Đôi mắt nó như hổ phách, dường như chẳng cần dùng phép thuật cũng đủ khiến người ta mê mẩn.

- Đạo sĩ?

Cấu tạo thanh quản của tinh quái khác với con người. Nếu chưa hóa thành hình người, dẫu có nói được tiếng người, cũng không thể nghe ra giống đực hay giống cái. Giỏi lắm chỉ nhận ra giống loài vốn có của chúng, xa hơn nữa là đoán được tuổi tác.

Giọng con mèo trong trẻo, không khàn đục.

- Xin hỏi nên xưng hô với cô nương thế nào?

Tống Du khách sáo chắp tay hành lễ.

- Ta là Tam Hoa nương nương.

- Tại hạ họ Tống. Tam Hoa nương nương, hữu lễ.

- Ngươi đến miếu của ta làm gì?

- Đêm qua tại hạ nghỉ lại trong miếu làng, được thần linh địa phương nhờ đến xem khói hương trong miếu này. Xin hỏi Tam Hoa nương nương tụ hương khói ở đây, đã được triều đình sắc phong chưa?

- Đó là gì?

- Chính là…

Tống Du nhìn con mèo, bỗng ngừng lời.

Con mèo yêu này tu vi thấp kém, hẳn mới thành tinh chưa lâu. Trông đôi mắt nó ngây ngô đến ngờ nghệch, xem ra hắn phải lựa lời giải thích cho thật dễ hiểu mới được.