Chương 170: Sau đại thắng
……
Nửa đường thu quân về đất Khương, quân trinh sát bỗng đến báo: nửa canh giờ trước, một toán quân Ngụy chừng ngàn người thẳng hướng đất Khương mà đi, phương hướng không rõ, ý đồ không rõ.
Nghe vậy, Mã Tốc thoáng sốt ruột, vội hạ lệnh dừng quân, mô phỏng thử tình hình chiến sự mười ngày tới, thấy các đội đều không bị tập kích, mới thở phào, thúc quân đuổi về hướng chính nam.
Tuy mô phỏng không ra động tĩnh của toán quân Ngụy ấy, song Mã Tốc biết ngay: là Đới Lăng!
Gã nhất định đang dẫn hơn ngàn tinh kỵ rút lui khỏi trận địa, phóng thẳng về phía Thiêu Đang Khương.
Mã Tốc lập tức chia quân ra mười mấy toán, mỗi toán chừng hai nghìn người, trải ngang như kéo thảm, lùng tìm Đới Lăng.
Chẳng bao lâu, A Đại và A Nhị chia quân đi trước, từ sau một đồi nức chạy quay lại, trông thấy Mã Tốc, vẫy tay từ xa hô hoán:
- Tướng quân, bên này! Quân Ngụy ở bên này!
- Dẫn đường phía trước! Mã Tốc chỉ nói gọn một câu, liền thúc đại quân truy kích.
Chừng một canh giờ sau, A Đại nằm áp tai xuống đất nghe nghe, rồi đút ngón tay vào một cục phân ngựa cảm nhận độ ấm, bỗng kêu lên:
- Tướng quân, bọn chúng ngay phía trước, đi chưa quá một nén hương!
Mã Tốc nghe lời, dẫn đại quân đuổi gấp, quả nhiên không lâu sau đã trông thấy từ xa một đám đông quân Ngụy phóng ngựa vô định trên cao nguyên trống trải. Bọn chúng chừng hơn ngàn người, mặc y phục quân Ngụy rách nát, thần sắc ngây đơ, mặt mày gỗ đá, tựa như một bầy xác chết chỉ biết chạy.
Phần đông đều dính thương.
Giữa hơn ngàn người ấy, một viên tướng đầu đội mũ trụ bạc, thân khoác giáp bạc, nổi bật hẳn lên.
Chính là Đới Lăng!
Trương Hưu không nhịn được, chắp tay nói:
- Tướng quân, mạt tướng xin ra trận, bắt sống kẻ này!
Mã Tốc khẽ nhíu mày. Trong mắt hắn, toán người kia không còn chút sinh khí nào, thần thái ngơ ngác, âm u đìu hiu.
Rõ ràng bọn chúng lúc này chẳng còn sức chiến đấu gì, căn bản không cần phải đánh.
Tình huống gì thế này?
Chẳng lẽ bị trận đại bại trước đánh cho choáng váng cả rồi?
Lúc ấy, phía xa vọng lại tiếng vó ngựa ầm ầm, thiếu tướng Triệu Vân dẫn quân từ phía trước tới tiếp ứng.
Mã Tốc vẫy tay quát:
- Trước hết bao vây lại, không có lệnh của ta, không được giết hại bừa!
Trương Hưu sững người:
- Sao vậy tướng quân? Bọn họ không phải địch sao?
Mã Tốc quay đầu, mặt không cảm xúc nhìn hắn. Trương Hưu trong lòng rùng mình, vội ôm quyền:
- Thuộc hạ sai rồi, tại hạ không nên lỡ lời, nghi vấn tướng quân.
Vì biết Trương Hưu vốn không biết nịnh bợ, quen nghĩ gì nói nấy, Mã Tốc vẫy tay:
- Thôi được.
- Nhớ kỹ, thiên chức của quân nhân có ba việc: phục tùng quân lệnh, phục tùng quân lệnh vô điều kiện, và vẫn là phục tùng cái quân lệnh chết tiệt ấy!
- Vâng. Trương Hưu vội đáp, trong bụng lại thầm lầu bầu, vị Mã tướng quân này cái gì cũng tốt, chỉ tiếc chỉ cho phép mình kháng lệnh tự tiện, không cho thuộc hạ cãi lại.
Nghĩ lại hồi trận Nhai Đình, hắn đã từng coi lời Thừa tướng như gió thoảng bên tai…
Xem ra từ nay phải làm nhiều nói ít thôi. Mã tướng quân chiến tích càng lúc càng đẹp, quan oai càng lúc càng lớn, đã không thể sống vui vẻ với ta như xưa nữa.
Đang nghĩ, thấy Mã Tốc lại liếc sang một cái.
Trương Hưu không dám chậm trễ, vội dẫn quân tiến lên, bao vây quân Ngụy.
Trận chiến không thể gọi là chiến đấu này đơn giản hơn tưởng tượng rất nhiều. Quân Ngụy bị vây xong, toàn bộ ném binh khí, ôm đầu ngồi xổm xuống đất.
Chỉ có một mình Đới Lăng đứng đó, mặt đầy vẻ bất đắc dĩ.
Hơn ngàn người này là thân binh gã rèn luyện hai năm trời, lần đầu lên chiến trường đã bị màn máu me thảm liệt kia dọa cho ngây người.
Nghĩ đến việc trước đây đã thua mấy trận, lần này đến cả chủ tướng Trương Hợp cũng bỏ mạng, Đới Lăng cho rằng mình về nước tuyệt đối không thoát được phép liên tọa của quân Ngụy, khó mà giữ mạng, đành dẫn hơn ngàn người chạy thẳng về đất Khương, định kiếm một bộ lạc nào đó đặt thân.
Thật không được thì đi làm cướp ngựa.
Nào ngờ vận xui đến thế, bị Mã Tốc đuổi kịp nhanh vậy.
Đới Lăng quỳ nửa gối xuống đất, chắp tay cúi đầu:
- Tướng quân, Đới Lăng nguyện hàng!
Mã Tốc ngồi vững trên lưng ngựa, nhìn xuống từ trên cao, trong khoảnh khắc nhớ lại rất nhiều lần giao duyên với Đới Lăng.
Bỗng nảy ra một ý nghĩ gan góc: thiên phú bị lãng quên của Đới Lăng kỳ thực có hiệu quả kỳ diệu khi dẫn quân mai phục. Ban nãy hắn mô phỏng chiến huống cũng không tìm ra tung tích Đới Lăng.
Nếu lệnh Đới Lăng mai phục sau lưng địch, dựng mấy chục thổ thành trên con đường lớn Lũng Sơn dài năm trăm dặm, rồi phái quân chặn đường quân Ngụy Quan Trung tiến về phía tây…
Như thế, mấy ngàn quân Ngụy ở vùng Lũng Hữu chẳng phải thành rùa trong rọ sao!
Nhưng ý nghĩ vừa trồi lên, Mã Tốc liền lắc đầu phủ quyết.
Lúc này chưa phải thời cơ tốt để chiếm Lũng Hữu, quân Ngụy vẫn còn đủ lực bảo vệ Lũng Hữu và Lương châu.
Một khi chọn lúc này để vạch mặt với nước Ngụy, mở ra cuộc tỷ thí ngươi sống ta chết, tất sẽ rơi vào cảnh phải đánh cứng từng thành một.
Cho nên, vẫn phải lấy ổn định làm đầu, lấy phát triển làm đầu, lấy thừa cơ chiêu hàng các tướng giữ thành làm đầu.
Nghĩ đến đây, Mã Tốc nhìn về hướng Kim Thành, vẫy tay:
- Thu quân!
- Rõ! Chư tướng đồng thanh vâng dạ.
Toàn bộ tù binh Ngụy bị tước hết vũ khí, kẹp giữa tiền quân và trung quân của quân Thục, đội ngũ rủng rỉnh lên đường trở về.
Mã Tốc viết kết quả cuối cùng của trận chiến cùng toan tính tiếp theo lên chiến báo, hành văn sửa đi sửa lại, thế nào cũng chưa ưng.
Ban đầu, Mã Tốc viết thế này: "Quân ta đại thắng ở Lương châu, bắt được hơn hai vạn quân Ngụy, chém hơn tám nghìn, binh phong sắc bén, đã đập nát gan dạ kẻ Ngụy."
"Tốc cho rằng, nay quân Quý Hán binh tinh lương đủ, Thừa tướng nên tiếp tục trương binh ở Ngũ Trượng Nguyên, tính kế chiến tranh lâu dài… cả đoạn gạch bỏ."
"Tốc cho rằng, nếu không có Thừa tướng vận trù trong màn trướng, quân ta quyết khó giành được thắng lợi. Trận này tám phần công lao nên quy về Thừa tướng, một phần quy về tướng sĩ dũng mãnh, Tốc chỉ dám nhận một phần công lao."
"……"
Viết xong, Mã Tốc lại suy nghĩ đắn đo rất lâu, rồi mới bằng lòng dùng nét chữ nguệch ngoạc như chó cào chép lại một bản, phái người phi ngựa gấp gửi về Ngũ Trượng Nguyên.
Tin thắng từ Lương châu nối tiếp nhau gửi đến, quân Thục đóng tại Ngũ Trượng Nguyên sĩ khí tăng vọt.
Gia Cát Lượng lại càng vui mừng.
Trong mắt y, thiên hạ như ván cờ, tính ba bước cho một nước cũng chưa chắc nắm chắc phần thắng.
Thế mà Mã Tốc lúc còn chẳng hiểu gì đã chiến đâu thắng đó.
Thông thường, một viên chủ tướng đạt được chiến tích như thế sẽ kiêu căng tự mãn, coi trời bằng vung, oai phong lẫm liệt.
Chưa chừng còn quay sang dạy y, vị Thừa tướng này, cách làm việc, chỉ tay năm ngón vào cách hành quân bố trận của y.
Y chang chuyện của Lưu Diễm trước kia.
Nhưng Mã Tốc thì không!
Trong thư, Mã Tốc hành văn vô cùng khiêm tốn lễ phép, không những trình bày chi tiết ba nguyên nhân lớn của việc đại thắng mà rút quân (kỵ binh không giỏi công thành, tù binh cần an trí, mấy vạn dân chúng tới quy phụ cũng cần an trí), mà giữa các dòng chữ còn toát ra đầy đủ ý tứ: trận đại thắng này có được là nhờ sự lãnh đạo anh minh của Gia Cát Thừa tướng, Mã Tốc chẳng qua chỉ là công cụ, là kẻ chấp hành. Cho nên trận này Mã Tốc chỉ xin nhận tiểu công, đại công hoàn toàn dựa vào Thừa tướng.
Trong bức thư này, dù là phán đoán thế trận hay lời tổng kết sau trận, Mã Tốc đều làm trọn vẹn chu toàn.
Tóm lại một câu là: không có Gia Cát Lượng thì trời Quý Hán không thể sáng.
Đọc đi đọc lại bức thư mấy lần, Gia Cát Lượng tâm tư dâng trào, nhịn không được mà thầm gào lên:
A……
"Ấu Thường hiểu ta, ô ô ô……"
"Bức thư này tuy có hiềm nghi nịnh hót, nhưng nhất định phải để bệ hạ và văn võ bá quan đều được thấy!"
Quyết ý xong, Gia Cát Lượng cầm bút viết một tấu chương, kèm theo chiến báo của Mã Tốc, phái người phi ngựa đưa về Thành Đô.
Tin thắng truyền tới Thành Đô, lập tức gây phản ứng như động đất.
Trên từ Lưu Thiện, giữa là văn võ bá quan, dưới đến trăm họ lê dân, tất cả đều sục sôi.
Lưu Thiện mừng rỡ vẫy vẫy bàn tay mập mạp, hào phóng thăng Gia Cát Lượng từ Vũ Hương hầu lên Tây Huyện hầu, phong Mã Tốc làm Vũ Hương hầu, Chinh Tây tướng quân, vàng bạc châu báu gấm vóc Thục đều có trọng thưởng riêng.
Tiễn xong thái giám đến truyền phong, Mã Tốc bỗng hiểu ra nhiều điều.
Thì ra quan trường là đục nước như thế.
Ngộ rồi ngộ rồi.
Không ngờ mình chỉ tiện miệng ca tụng một trận, vậy mà liếm thẳng được một cái tước Vũ Hương hầu, đến cả chức quân cũng thăng thêm một bậc.
Các thứ ban thưởng khỏi phải nói, chất cao như núi.
Tuy bây giờ hắn căn bản chẳng thiếu chút tiền ban thưởng này của Lưu Thiện, nhưng muỗi dù nhỏ cũng là thịt.
Vui vẻ nhận lấy ban thưởng, Mã Tốc tiếp tục bận rộn.
Hiện giờ chưa phải lúc vui vẻ.
Việc cấp bách trước mắt là chuyển biến tư tưởng quan niệm của Đới Lăng cùng hơn hai vạn quân Ngụy, khiến bọn chúng từ nay về sau lòng hướng về Thục Hán, chỉ hướng về Thục Hán, không còn ôm bất cứ ảo tưởng nào về nước Ngụy nữa.
Binh hàng tướng giáng, từ xưa đến nay vẫn là yếu tố bất an.
Mã Tốc bắt buộc phải xóa hết mọi tai họa ngầm ngay từ trong trứng nước.
Bởi vì ở thời không gốc, Thục Hán từng chịu thiệt thòi lớn trong việc này!
Xuân tháng giêng năm Diên Hy thứ mười sáu (năm 253), Đại tướng quân Phí Y của Thục Hán mới khai phủ chưa lâu chủ trì đại hội đầu năm (tết) tại Hán Thọ, vì người gặp việc vui nên uống say khướt. Giữa tiệc, kẻ hàng nhân Ngụy là Quách Tu bỗng nổi giận, nhân lúc mời rượu rút dao đâm chết Phí Y, đợi mọi người hoàn hồn thì Phí Y đã nằm trong vũng máu, tắt thở tại chỗ.
Quách Tu vốn là người Tây Bình thuộc Lương châu của Ngụy, quan đến Trung lang tướng. Năm Diên Hy thứ mười ba (năm 250), Khương Duy xuất binh Lũng Hữu, liên hợp người Khương tiến đánh quận Tây Bình của Ngụy, tuy không phá được thành nhưng bắt được Quách Tu cùng một số người mang về.
Vì nước Thục khan hiếm nhân tài, để khuyến khích thêm nhiều người Trung Nguyên đến quy phụ Thục Hán, cho nên Thục Hán luôn trọng dụng tướng hàng, như Khương Duy, Vương Bình, Hạ Hầu Bá sau khi hàng Thục đều được trọng dụng.
Quách Tu hàng Thục rồi, Lưu Thiện cũng chẳng hề bạc đãi hắn. Trong vòng ngắn ngủi ba năm, Quách Tu đã quan đến Tả tướng quân, trở thành một trong các cao cấp tướng lĩnh của Thục Hán.
Đã đãi ngộ hậu hĩnh như vậy, vì sao Quách Tu lại đi ám sát Phí Y? Hắn bị người sai khiến, hay tự phát mà làm? Nếu bị sai khiến, ai là kẻ chủ mưu sau màn?
Rất nhiều người nghi Khương Duy là kẻ chủ mưu.
Thứ nhất, Quách Tu do Khương Duy mang về từ Tây Bình, Khương Duy quả có hiềm nghi.
Thứ hai, Khương Duy và Phí Y phân kỳ rất lớn trong vấn đề Bắc phạt. Khương Duy trông cậy vào tài năng văn võ kiêm toàn của mình, lại quen thuộc phong tục Tây Lương, bèn muốn lôi kéo tộc Khương, tộc Đê làm cánh tay phụ tá, phát động Bắc phạt để hoàn thành di nguyện của Gia Cát Lượng.
Nhưng Phí Y lại cho rằng việc phạt Ngụy nên để lại cho người đời sau giải quyết. Ông nói: "Chúng ta kém Thừa tướng nhiều lắm, Thừa tướng còn không định được Trung Nguyên, huống chi chúng ta! Chẳng bằng tạm giữ nước cai dân, cẩn thủ xã tắc, cái công nghiệp ấy thì chờ kẻ có năng lực, chớ mong cầu may rủi, quyết thành bại trong một lần. Nếu không như chí, hối hận cũng không kịp."
Khương Duy tuy cùng Phí Y đồng lục thượng thư sự, nhưng chức vụ của Phí Y là Đại tướng quân, cao hơn Khương Duy một bậc, quân quyền nắm trong tay Phí Y. Vì thế mỗi khi Khương Duy muốn dấy binh Bắc phạt đều bị Phí Y níu kéo, khiến đại quân Khương Duy thống lĩnh không quá hơn vạn người, chẳng khác đùa giỡn, điều này khiến Khương Duy rất bực mình.
Thứ ba, sau khi Phí Y gặp ám sát mất mạng, Khương Duy là người hưởng lợi lớn nhất. Xuân năm Diên Hy thứ mười chín (năm 256), Khương Duy được thăng làm Đại tướng quân, trở thành quyền hành số một của đại quân Thục Hán, từ đấy Khương Duy buông tay chân chủ trì Bắc phạt.
Thế nhưng, Mã Tốc biết rõ Khương Duy không phải kẻ chủ mưu.
Thứ nhất, Khương Duy căn bản không biết Quách Tu là sát thủ.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa Khương Duy và Phí Y chỉ là chính kiến khác nhau, không liên quan đến xung đột lợi ích căn bản, hoàn toàn không cần thiết phải đưa đối phương vào chỗ chết.
Hơn nữa, nếu Quách Tu là sát thủ Khương Duy kiếm được, thì Khương Duy há lại tự tay mang sát thủ về nước Thục?
Đã Quách Tu ám sát Phí Y không phải do Khương Duy sai khiến, vậy hắn có phải sát thủ nước Ngụy phái đến không?
Sau khi Quách Tu ám sát thành công Phí Y, phía Tào Ngụy ra sức khen thưởng hắn, đem hắn sánh ngang với Nhiếp Chính, Phó Giới Tử. Nhiếp Chính là hiệp khách thời Chiến Quốc, để báo ân tri ngộ của đại phu nước Hàn là Nghiêm Trọng Tử, một mình ám sát tướng quốc Hàn là Hiệp Luy. Để tránh liên lụy người khác, hắn tự cạo mặt, móc mắt, tự sát mà chết.
Phó Giới Tử là đại thần thời Tây Hán, phát hiện Lâu Lan, Quy Tư nhiều lần phản phúc, bèn chủ động xin đi ám sát vua Lâu Lan, và mang thành công thủ cấp vua Lâu Lan về kinh thành.
Tào Phương (Tư Mã Sư) rùm beng khen thưởng Quách Tu, ý tứ rất rõ, đó là muốn nói với thiên hạ rằng Quách Tu là người mình phái đi ám sát Phí Y.
Nhưng sự thật có đúng thế không?
Không phải!
Chưa kể Lưu Thiện là "chúa công tầm thường", tài năng Phí Y cũng không nổi trội gì đặc biệt. Sự tồn vong của hai người này chẳng ảnh hưởng gì đến "hưng vong" của nước Thục, vì thế Tào Ngụy căn bản không cần phái thích khách đi ám sát bọn họ.
Muốn ám sát thì cũng phải ám sát Khương Duy chứ.
Huống chi Quách Tu bị Khương Duy bắt được trong chiến đấu, thuộc loại bị động vào Thục. Nếu hắn là thích khách Ngụy phái đi, đáng lẽ phải giống Mã Mậu hay Hạ Hầu Bá, dùng cách giả hàng hay chủ động quy phụ mới phải.
Cho nên, Quách Tu không phải thích khách Tào Ngụy phái đến.
Đã Quách Tu không phải thích khách của Tào Ngụy, vậy vì sao hắn lại bỏ cả cao quan hậu lộc, chủ động cầu chết?
Quách Tu đến nước Thục rồi, trong ba năm ngắn ngủi đã đạt đến đỉnh cao nhân sinh. Thế mà điều khó hiểu là hắn lại tự tay hủy hoại tất cả, còn dính cả cái mạng già của mình. Hắn vì sao lại làm thế?
Động cơ Quách Tu ám sát Phí Y kỳ thực rất đơn giản.
Lời nói của Hác Chiêu, tướng giữ Trần Thương, hồi Gia Cát Lượng Bắc phạt lần hai, có thể giải khai nghi vấn này.
Ở thời không gốc, mùa đông năm 228 công nguyên, Gia Cát Lượng nhân cơ hội Tào Hưu đại bại ở Thạch Đình, binh lực Quan Trung trống rỗng, lại xuất binh Bắc phạt, bao vây Trần Thương. Lúc ấy Trần Thương chỉ có hơn ngàn quân giữ thành, Gia Cát Lượng bèn phái người đi thuyết phục tướng giữ thành Hác Chiêu đầu hàng. Hác Chiêu lấy lý do phải tuân thủ "khoa pháp của nhà Ngụy" mà từ chối hàng.
Chế độ con tin chính là một trong những điều nằm trong "khoa pháp của nhà Ngụy". Năm xưa Tào Tháo rút bài học đau đớn từ vụ Trương Tú hàng rồi lại phản, bèn hoàn thiện chế độ con tin, quy định gia quyến của các tướng lĩnh giữ biên cương đều phải dời về Nghiệp Thành, đặt ngay dưới mắt Tào Tháo để tiện bề giám thị.
Quách Tu là tướng giữ biên của Tào Ngụy, khỏi phải nghi, gia đình hắn cũng đang ở Nghiệp Thành. Nếu hắn thật lòng đầu hàng Thục, người nhà hắn chỉ còn nước chết. Nhưng chọn đường ám sát Phí Y, tuy phải trả giá bằng mạng mình, lại giữ được gia quyến ở Nghiệp Thành, hơn nữa còn có thể trở thành cái cớ để người nhà được phong quan tấn tước.
Để người nhà ở Nghiệp Thành khỏi bị hại, lại còn có thể khiến họ sống khá hơn nữa, Quách Tu đã chọn giết thân thành nhân, ra tay ám sát Phí Y.
Đó chính là động cơ.
Còn Thục Hán vì thiếu người tài, bấy lâu vẫn không áp dụng chế độ con tin với các tướng Ngụy đến đầu hàng, nên mới để Quách Tu có kẽ hở mà nhân. Đây cũng là yếu tố quyết định khiến Quách Tu ám sát thành công Phí Y.
Việc Mã Tắc đang làm lúc này chính là hoàn thiện chế độ ấy.
Tức là giải cứu gia quyến của các tướng lính đầu hàng, đưa họ về Thục Hán.
Việc này phải tiến hành lén lút, kín đáo.