Chương 160: Đối thủ mới của Gia Cát Lượng
Đợi đến khi Triệu Vân, kẻ trung thành kiên định với nhà Hán, bình tĩnh trở lại thì Mã Tất đã nôn đến mức không còn gì trong bụng, tựa vào góc tường thở hồng hộc.
Vốn đây chỉ là chuyện nhỏ, chẳng liên quan gì đến thể diện.
Nhưng khi khóe mắt Mã Tất thoáng thấy Trương Hưu đang đứng ngoài cửa, co vai ôm bụng cười ngất, lại chẳng chịu đến cứu hắn!
Hắn bùng nổ ngay tại chỗ.
Nín thở lấy lại hơi, hắn vẫy tay ra hiệu Trương Hưu đến gần, kéo dài mặt hỏi:
- Cho rằng năm nghìn thạch lương đủ cho năm nghìn quân ta ăn trong năm ngày, vậy một vạn quân trong mười ngày cần bao nhiêu lương thảo?
Nghe vậy, đầu óc Trương Hưu như nổ tung, nhẩm tính rất lâu mới ngập ngừng đáp:
- Một vạn thạch lương?
Nói thật, câu hỏi này đã làm khó Trương Hưu. Hắn chữ to bằng cái đấu cũng không biết được một sọt, tuy được quỷ tài toán học Mã Tất dạy dỗ một thời gian dài, giờ vẫn chỉ là tay mơ nửa mùa. Phép cộng trừ trong vòng một trăm còn phải bận ngón tay đếm nửa ngày.
Thế mà hắn lại tính đúng! Mã Tất giật mình kinh ngạc, im lặng một lúc, rồi phịch một phát lên đùi.
- Đồ khốn! Thân là cao cấp thiên tướng, tính một bài toán mà cũng phải mất chừng ấy thời gian!
Mã Tất vừa quát mắng Trương Hưu, vừa móc từ trong ngực ra một quyển Cửu Chương Toán Thuật giấy đã vàng ố, ném vào lòng y, trầm giọng nói:
- Phạt ngươi trong một ngày chép cuốn sách này một trăm lần! Chép không xong, xử theo quân pháp!
- Vâng.
Trương Hưu ôm quyển Cửu Chương Toán Thuật trong lòng, mặt mày xanh mét, ủ rũ ra đi.
Mã Tất thở dài một hơi, trong bụng khoan khoái vô cùng.
Triệu Vân nhìn hắn mà cạn lời, nhịn đi nhịn lại, cuối cùng vẫn không nhịn được, chen vào một câu:
- Ấu Thường, hình như không đúng rồi. Theo giả định năm nghìn người năm ngày dùng năm nghìn thạch lương, thì một vạn người mười ngày chẳng phải nên là hai vạn thạch sao? Triệu mỗ lâu năm theo Thừa tướng chinh chiến bốn phương, thường xuyên được Thừa tướng chỉ dạy, tuyệt đối không tính sai đâu. Hay là ngươi tính lại xem?
Mã Tất mặt không chút biểu cảm nhìn Triệu Vân một cái, rồi nhanh chóng lái sang chuyện khác:
- Triệu lão tướng quân, ta định trong hai bộ tộc Khương Thiêu Đương và Khương Tiên Linh, mỗi bên tuyển ra một vạn dũng sĩ tinh nhuệ, huấn luyện thành quân. Sau này đợi thiên hạ có biến, ta sẽ tự thân đem kỵ binh đánh Vũ Uy, lại lệnh một viên tướng dẫn binh ở Tây huyện tiến về Thiên Thủy. Như thế có thể trước chiếm Lương châu, sau hợp vây Lũng Hữu, rồi nhìn ngó Quan Trung… đại sự có thể thành! Không biết lão tướng quân nghĩ sao?
Nghe xong, mắt Triệu Vân bỗng sáng lên như sao trời.
Đến tuổi của ông, phần lớn mọi thứ ông đã chẳng còn hứng thú gì, ví như đàn bà, ví như tiền tài, nhưng nhắc đến huấn luyện kỵ binh, thống lĩnh kỵ binh thì ông lại tràn đầy sức lực.
Thân là tướng quân, ai mà không muốn có một đạo hổ lang nhanh như gió, mau như chớp?
- Kế này hay lắm! Hay lắm! Việc này, Triệu mỗ xin nhận!
Mã Tất gật đầu, sai người bê lại một chiếc án thư, đặt ở chỗ xa Triệu Vân một chút, rồi bắt đầu nằm sấp trên đó viết viết vẽ vẽ, tính toán chi phí tổ chức một vạn kỵ binh tinh nhuệ.
Ngựa thì có sẵn, nhà nhà người Khương đều nuôi ngựa, tuyển ra một vạn con ngựa tốt không khó. Binh sĩ cũng có sẵn, người Khương từ nhỏ lớn lên trên lưng ngựa, thuật cưỡi ngựa tinh tường, một khi thành quân thì sức chiến đấu khỏi phải bàn.
Đạo thiết kỵ Tây Lương ngày xưa giết Tào Tháo đến phải cắt râu bỏ áo, chính là lấy người Khương làm gốc mà dựng lên.
Vấn đề bây giờ là tổ chức một đạo hai vạn tinh kỵ cần bao nhiêu tiền. Trọn bộ giáp trụ binh khí trang bị, đốt tiền vô cùng.
Tuy kho bạc của Khương Thiêu Đương chẳng thiếu tiền, nhưng vì thiếu sắt, thiếu thợ luyện sắt và một loạt vấn đề khác, mấy đời Khương vương trước từng có kế hoạch tổ chức tinh kỵ để kháng cự nước Ngụy, tự lập một phương, kết quả đều phải bỏ dở.
Thục và Ngụy, hai nước có kỹ thuật luyện sắt phát triển nhất, đều hạn chế xuất sắt ra các tộc ngoại bang. Sau khi bị quân Tây Lương thương dài ngựa nhanh xiên cho đến độ sống không tự lo được, Tào Tháo lập tức hạ lệnh nước Ngụy không được bán sắt thành phẩm số lượng lớn cho ngoại tộc xung quanh. Còn nước Thục thì đường núi gian nan, vận chuyển bất tiện, nên người Khương thường chỉ đành mua sắt từ các nước Tây Vực.
Nhưng kỹ thuật luyện sắt của các nước Tây Vực vẫn còn chưa bước ra khỏi thời kỳ đồ đá cấp một, cách thời đại luyện tinh thiết cấp ba của Trung Nguyên quá xa, không nhắc đến cũng được.
Cho nên trong một thời gian rất dài, quân Khương tuy dũng võ phi phàm nhưng chỉ cầm được mớ trang bị tệ nhất đi đánh nhau với Thục và Ngụy, thường xuyên bị hai nước kia sắp xếp rõ ràng sáng tỏ.
Ngày xưa quân Tây Lương của Mã Đằng, Hàn Toại vô địch là bởi họ vốn là thần Hán, có thể mua được sắt khí, giáp trụ và đủ thứ trang bị từ đại Hán.
Nhưng bây giờ những vấn đề ấy không còn là vấn đề nữa. Kỹ thuật luyện sắt của Thục phi thường phát triển, con đường động mạch dẫn đến Tây huyện cũng sắp tu xong, vận chuyển không còn là trở ngại.
Chỉ cần kiếm được sắt và trang bị, tổ chức ra đạo kỵ binh đầu tiên đúng nghĩa của Thục Hán, rồi đối đầu trực diện với nước Ngụy, chắc không khó chứ?
Đến lúc đó, ta không cần cứ gặp quân Ngụy là phải dùng cách thu đầu không chiến nữa.
Mã Tất thầm nghĩ.
Trải qua ba ngày ba đêm nghiên cứu, quỷ tài toán học rốt cuộc cũng tính rõ toàn bộ chi phí.
Nói một cách đơn giản, tổ chức một đạo hai vạn tinh kỵ cần bốn vạn con ngựa, bốn vạn bộ yên cương, hai vạn bộ khôi giáp, mũ trụ, binh khí, cung tên và một loạt trang bị.
Không tính giá ngựa và binh sĩ, bình quân mỗi kỵ binh tiêu tốn ba vạn đại tiền, hai vạn kỵ binh tổng chi phí là sáu mươi ức.
Nghĩa là tổ chức đạo kỵ binh này, tiền trong quốc khố của Khương Thiêu Đương lập tức đi tòng ba phần năm.
Ra được kết quả này, Mã Tất vừa kinh vừa tiếc.
Từng tên kỵ binh trang bị tinh lương kia, thực chất chính là ba vạn đồng biết di động.
Bất kể là phục kích hỏa công ở Hạ Biện, hay đào kênh nhấn thành ở Kiến Uy, quân Thục do hắn chỉ huy trong lúc đánh bại quân Ngụy cũng đã phá hư rất nhiều trang bị.
Xem ra sau này đánh nhau với nước Ngụy, phải cố dùng chiêu khuyên hàng mới được. Trừ phi bất đắc dĩ, quyết không được dùng bạo lực.
Mã Tất âm thầm đánh chủ ý.
Ngũ Trượng Nguyên, đại doanh quân Thục.
Gia Cát Lượng mặt đầy vẻ bất đắc dĩ nhìn Xa kỵ tướng quân kiêm Giám quân là Lưu Diễm đang thao thao bất tuyệt.
Lần xuất binh qua Tà Cốc này, Gia Cát Lượng mang theo năm vạn đại quân. Vừa vào địa giới Quan Trung, lập tức trông trúng pháo đài trời tạo Ngũ Trượng Nguyên. Thế là một bên lệnh cho các tướng phân binh đi lấy các quận huyện xung quanh, một bên lệnh quân sĩ đắp công sự trên Ngũ Trượng Nguyên.
Lần này, Gia Cát Lượng có đủ khí lực tự tin. Quân Thục một không thiếu lương, hai là lương đạo đang được tu đắp nhanh chóng. Chưa đầy ba tháng, đại lộ sẽ nối thông từ Hán Trung đến Ngũ Trượng Nguyên.
Nói trắng ra, lần này ông chuẩn bị đánh trận bền bỉ.
Nhưng giám quân Lưu Diễm lại có cái nhìn khác.
Lưu Diễm người nước Lỗ, Dự châu. Thời gian Lưu Bị ở Dự châu đã chiêu Lưu Diễm làm tòng sự. Vì Lưu Diễm với Lưu Bị đồng tông đồng tính, lại là người có nghi biểu phong độ, giỏi đàm luận nghị luận, nên rất được Lưu Bị hậu đãi, thường với thân phận khách nhân đi theo Lưu Bị tiếp khách giao tế.
Mùa hạ năm Kiến An thứ mười chín, tức năm 214, Lưu Bị đánh bại Lưu Chương chiếm được Ích châu, bổ nhiệm Lưu Diễm làm thái thú quận Cố Lăng. Tháng tư năm Chương Vũ thứ ba, tức năm 223, Lưu Bị mất. Tháng năm, thái tử Lưu Thiện lên ngôi, cải nguyên Kiến Hưng. Lưu Diễm được phong Đô Hương hầu, trật quan chỉ đứng sau Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm, lại kiêm Vệ úy, Trung quân sư, Hậu tướng quân, sau từ Hậu tướng quân thăng lên Xa kỵ tướng quân.
Lưu Diễm tuy quan ở bậc cao, nhưng không tham dự vào việc chính sự Thục Hán, chỉ được Lưu Thiện ủy phái, mang tính tượng trưng thống lĩnh hơn nghìn binh sĩ đi theo bên cạnh Thừa tướng Gia Cát Lượng, đưa ra vài ý kiến phê bình mà thôi.
Việc để Lưu Diễm đi theo quân là do Gia Cát Lượng chủ động yêu cầu.
Bởi lần trước phản gián kế của Tư Mã Ý khiến Hậu chủ sáu thần vô chủ, phải triệu ông về Xuyên trung, làm tiến trình bắc phạt bỏ dở giữa chừng.
Để tránh tái diễn tình huống đó, lần xuất binh này Gia Cát Lượng cố ý mang theo Lưu Diễm.
Ông vốn cho rằng Lưu Diễm biết rõ phận lượng của mình, chỉ là một công cụ nhân mang theo cặp mắt.
Nhưng không ngờ, Lưu Diễm không có giác ngộ ấy.
Từ lúc xuất binh, Lưu Diễm cứ liên tục chỉ tay chỉ chân vào việc hành quân bố trận của ông.
Hơn nữa bài vị của Lưu Diễm trong quân cũng phi thường cao điệu, còn cao điệu hơn cả chủ soái Gia Cát Lượng. Xe ngựa, y phục, ăn uống của hắn đều xứng với hai chữ xa hoa, thường đem theo hơn trăm thân tòng, oai oai duệ duệ đi dò xét các doanh.
Điều này khiến các tướng trong lòng đều có oán khí.
Doanh trướng của các tướng là nơi riêng tư, sao có thể nhìn bậy nhìn bạ?
Phải biết mọi người đều là võ tướng, trong quân lại không có đàn bà, ngày thường chỉ còn cách luyện võ để giải toả.
Lưu Diễm cứ xông vào xông ra như vậy, lỡ trông thấy cảnh tượng một chơi năm hay một chơi mười không nên cho người ngoài xem thì mặt mũi mọi người biết để đâu?