Hồi 139: Ai dám nói mình bất bại? Kẻ nào xưng là vô địch?
Mười một lần Khương Duy khởi binh Bắc phạt, quả thật hao tổn không ít sức nước của nhà Thục. Nhưng cho dù vậy, chỉ cần Khương Duy không tự rước lấy họa, tức là không mở ra ván bạc kia, thì nhà Ngụy cũng chẳng có mấy cơ hội để thừa dịp.
Ngay cả Đặng Ngải, người suốt bao năm đối đầu với quân Thục, cũng phải thừa nhận rằng: quân Thục vẫn chưa thể khinh thường, khả năng đánh Thục thành công vẫn còn xa vời!
Thế mà, Khương Duy đã tự tay mở ra cho nhà Ngụy một cánh cửa.
Năm 262, một năm trước khi Thục Hán diệt vong, Khương Duy làm hai việc.
Một là, tập trung binh lực, thu dọn lương thực.
Khương Duy cho rằng: dựa vào Tần Lĩnh để chặn quân Ngụy, đánh trận chống cự thì lợi ích không lớn, chi bằng để quân Ngụy tràn vào mà đánh!
Ý cốt của sách lược "tụ binh tụ cốc" là: thu hẹp binh lực ở Hán Trung lại cho vừa mức, nhằm tập trung lực lượng đánh vào quân địch đến xâm phạm; củng cố thành trì, dọn sạch đồng ruộng, khiến đạo binh đường xa bị vây khốn mà bại; cuối cùng, nhân lúc địch vất vả mà không lập được công đành phải rút về, thì truy kích mà tiêu diệt. Cốt lõi của chiến lược này là dụ địch vào sâu, đóng cửa đánh chó. Chiến lược ấy không thể không nói là một sách lược ngự địch, diệt địch khá hay khi thực lực đôi bên chênh nhau không nhiều.
Vì thế, Khương Duy thay đổi sách lược phòng ngự từ thời Ngụy Diên, Gia Cát Lượng và Vương Bình, rút hết quân đóng ở các cửa ải hiểm yếu, đồn trú tại Hán thành, Lạc thành và Dương Bình quan, toan để quân Ngụy vào mà đánh!
Nhưng do tình báo và tầm nhìn có hạn, Khương Duy không thể dự đoán chính xác rằng số binh lực nhà Ngụy có thể bố trí ở tuyến tây đã thay đổi. Binh lực Ngụy ở tuyến tây không còn là quy mô mười vạn như mấy chục năm trước nữa, mà có thể lên tới ba mươi vạn, thậm chí hơn.
Bởi vậy, toan tính dụ địch vào sâu rồi đóng cửa đánh chó đã sai lệch một cách khủng khiếp: kẻ xông vào không phải một con chó, mà là một con hổ và hai con chó.
Hai là, đồn quân ở Đạp Trung.
Để tránh họa, Khương Duy dẫn quân đến Đạp Trung đồn điền.
Ý đồ của hắn quá rõ ràng: một khi chiến sự nổ ra, quân Thục ở Hán Trung sẽ để địch vào, còn Khương Duy thì cầm quân Thục từ Đạp Trung nhìn về phía đông, chặt đứt đường tiếp tế của quân Ngụy, phong tỏa đường rút lui, từ đó gom quân mà diệt!
Phải nói là ván bạc này mở ra cực kỳ mạo hiểm.
Giả sử thắng, Khương Duy nhiều lắm cũng chỉ đánh được một trận như "trận Thạch Đình" của Lục Tốn, tiêu diệt được một ít quân Ngụy, nhưng không thể thay đổi cục diện Ngụy mạnh Thục yếu, càng không thể chiếm được một tấc đất nào của Ngụy.
Huống chi vì Hán Trung là chiến trường chính, trăm họ Hán Trung sẽ gánh chiến loạn oan uổng, ruộng vườn, nhà cửa, gia súc, thành trì, mọi cơ sở vật chất đều bị phá hủy nặng nề, lỗ nhiều hơn lãi!
Và điểm mấu chốt nhất là: một khi thua, nước Thục sẽ diệt vong!
Khương Duy chẳng khác nào một con bạc, cất giọng hô to: đánh tài xỉu đây, ta cược mười vạn binh mã, Tư Mã Chiêu mau vào bàn đánh một ván!
Ta xả láng rồi!
Cân nhắc rằng mười vạn là toàn bộ vốn liếng của Thục, còn vốn của Ngụy tới cả trăm vạn, Tư Mã Chiêu suy nghĩ một chút, rất nhanh đã quyết định.
Sao lại không đánh một ván chứ?
Theo mười vạn binh mã của ngươi, lại cộng thêm hai mươi vạn nữa đặt vào mặt ngươi, Khương Duy!
Khương Duy không theo nổi nữa.
Thật ra từ hồi Ngụy Minh Đế Tào Duệ muốn đánh Thục, Lưu Phóng đã từng tính cho Tào Duệ một bài toán số học: với địa hình biên giới Ngụy Thục như vậy (Thục chiếm chỗ hiểm của Tần Lĩnh), Ngụy cần tương quan binh lực ba chọi một mới đánh thắng được Thục!
Tức là ba mươi vạn quân trở lên.
Vì lâu nay Ngụy đã đổ một lượng binh lực khổng lồ vào hai tuyến đông và nam, nên muốn bố trí ở tuyến tây binh lực gấp ba lần Thục vẫn hơi vất vả (chỉ là vất vả, chứ không phải không làm được).
Cho nên, Ngụy rất do dự trong việc đánh Thục.
Nhưng Khương Duy bỗng mang đến cho Ngụy một cơ hội!
Tư Mã Chiêu sau khi phân tích tỉ mỉ, đoán chắc tổng binh lực Thục nhiều nhất cũng không quá mười một vạn! Khương Duy đem năm vạn đi đồn điền ở Đạp Trung, quân trung quân ở Thành Đô ít nhất hai vạn, biên giới đối phòng với Ngô ít nhất một vạn, quân giữ Hán Trung nhiều lắm cũng chỉ ba vạn!
Thế là, Tư Mã Chiêu nhanh chóng bố trí.
Tuyến tây: Đặng Ngải cầm ba vạn quân quấn lấy Khương Duy, Gia Cát Tự cầm ba vạn quân chặt đứt đường Khương Duy về Hán Trung, tức là chỗ đầu cầu Âm Bình.
Như vậy, sáu vạn quân Ngụy đối với năm vạn quân Khương Duy, tiêu diệt hắn thì chưa chắc được, nhưng kiềm chân hắn lại thì không có gì khó.
Tuyến đông: Chung Hội cầm mười hai vạn đại quân dễ dàng tiến vào Hán Trung, đánh ba vạn quân Thục.
Một tràng thao tác thế là xong, quân Ngụy trong cục bộ đã tạo ra chênh lệch binh lực gấp bốn lần quân Thục.
Còn dư dả hơn cả ước tính ba chọi một của Lưu Phóng năm xưa.
Tư Mã Chiêu cho rằng: dùng binh thế này, cho dù chưa diệt ngay được Thục, thì Hán Trung coi như đã trong tay, mà một khi Hán Trung đã nắm được, Thục Hán mất đi cửa ngõ, cách ngày diệt vong cũng không còn xa.
Cho dù Khương Duy phán đoán sai cục thế khiến quân Ngụy dễ dàng vào Hán Trung, nhưng nếu đối thủ trên bàn cược chỉ là mình Tư Mã Chiêu, thì hắn chưa chắc không giữ nổi nước Thục.
Dĩ nhiên, Hán Trung thất thủ là chắc chắn.
Thế nhưng, Tư Mã Chiêu là người quyết định cao nhất của nước Ngụy, có thể khống chế biểu hiện của Ngụy trên bàn cược, còn Khương Duy không phải người quyết định cao nhất của Thục Hán, không thể khống chế biểu hiện của Thục trên bàn.
Trước đó, Khương Duy linh cảm được Ngụy sắp phát động tấn công, để đảm bảo Hán Trung không mất, đã xin điều Trương Dực tăng binh giữ Dương An quan, Liêu Hóa tăng binh đồn trú ở đầu cầu Âm Bình.
Nhưng vì Hoàng Hạo cản trở, hai đạo điều lệnh này không thành.
Cuối cùng, tướng giữ Dương An quan đầu hàng giặc, Hán Trung thất thủ. Khương Duy cũng bị kẹt ở Đạp Trung, biến thành rùa trong vại, không lối thoát thân.
Lúc ấy, tất cả mọi người kể cả Tư Mã Chiêu đều cho rằng Khương Duy sẽ bị nhốt chết tươi ngay tại Đạp Trung.
Nhưng Khương Duy lại một lần nữa khiến mọi người ngã ngửa.
Hắn dùng binh khéo léo, điệu đi được Gia Cát Tự đang chặn ở đầu cầu Âm Bình, quay về tuyến đông, hợp với các tướng lui giữ Kiếm Các, rồi lại phát huy tài quân sự xuất chúng, thành công chặn đứng những đợt công kích liên tiếp của nguyên soái quân Ngụy Chung Hội.
Quân Ngụy cũng từng một thời gian vì không hạ nổi Kiếm Các, lại thêm vận lương khó khăn, đã cân nhắc chuyển sang thế thủ ở Hán Trung, tạm thời rút đại quân về, chờ cơ hội tái chiến.
Bởi lúc ấy Tư Mã Chiêu đã đạt được bước đầu mục đích xuất binh, tức là chiếm được Hán Trung, uy chấn thiên hạ, có được tư bản để chiếm lấy nước Ngụy mà thay thế.
Nhưng ngay lúc ấy, Đặng Ngải lặn lội vượt Âm Bình, Gia Cát Chiêm cha con toàn quân bỏ mình ở Miến Trúc quan, sĩ dân Thục đua nhau trốn tránh không dám chặn quân Ngụy, Lưu Thiện đầu hàng không đánh.
Thục Hán diệt vong!
Cho dù là kỳ mưu của Đặng Ngải, hay biểu hiện của Gia Cát Chiêm, Lưu Thiện cho tới sĩ dân đất Thục, tất cả đều là những thứ Khương Duy không thể khống chế, và biểu hiện của bọn họ cũng là trí mạng.
Nhưng thứ thôi thúc bọn họ đưa ra những biểu hiện ấy, chính là sách lược "tụ binh tụ cốc" của Khương Duy.
Quốc lực Thục Hán vốn luôn yếu hơn Ngụy rất nhiều, đến thời kỳ cuối Thục, kinh tế phương bắc khôi phục nhanh chóng, thực lực hai bên càng chênh lệch.
Nhưng đúng như Đặng Ngải phán đoán: nếu Thục cứ dựa vào thiên hiểm mà phòng ngự, Ngụy cũng chẳng có bao nhiêu cơ hội thừa dịp.
Bởi cái ghế quyết định cái đầu.
Trước đó Đặng Ngải luôn đem binh ở ngoài, trên tay mãi chỉ có ba đến năm vạn nhân mã, hắn không thể biết chính xác tổng số binh lực Ngụy có thể bỏ vào tuyến tây.
Nhìn bằng ba năm vạn nhân mã trong tay mình, Thục quả thật khó mà công lấy.
Nhưng Tư Mã Chiêu và Chung Hội là những người tổng lãnh toàn cục, có thể biết chính xác giới hạn trên của binh lực Ngụy có thể động dụng.
Thế là, sách lược trước sau bỏ vào ba mươi vạn binh lực, ba đường đánh Thục, đã ra đời.
Dĩ nhiên, nếu Khương Duy không mở cái ván bạc liều mạng này, Ngụy tạm thời vẫn chẳng có cơ hội tốt nào để diệt Thục.
Cái "ván bạc mở cửa" ấy là chất xúc tác cho sự diệt vong của Thục.
Đó là một ván bạc mà Thục vốn không thua nổi.
Ngụy Thục quốc lực chênh lệch quá xa, tài thao lược của Đặng Ngải, Chung Hội lại không thua gì Khương Duy, thì Khương Duy lấy đâu ra chắc chắn chế địch?
Mà Thục dân ít ỏi, kinh tế suy kiệt, mâu thuẫn trong nội bộ gay gắt, lúc nguy cấp Khương Duy còn đến Đạp Trung lánh nạn, trốn khỏi tai họa từ chính đất Thục. Trong cục thế như vậy, dù Khương Duy thao lược có xuất chúng đến đâu, thì làm sao mà không bại?
……
Suy nghĩ quay về, Mã Tắc hít một hơi thật dài.
Chuyện xưa đã qua rồi!
Ai đúng ai sai, giờ cũng chẳng còn quan trọng nữa.
Đã là hắn đặt chân đến thời không này, thì chuyện thế kia tuyệt đối sẽ không xảy ra ngay trước mắt hắn!
Trước mặt hắn, Mã Tắc chiến thần vốn chẳng cần nhờ vả ngoại lực.
Kẻ nào dám nói mình bất bại? Ai dám xưng là vô địch?
Tất cả đều một quyền đấm ngã nhào xuống đất!