Chương 37: Địa Tiên Hòa Hoài Tây Đích Loa Tử - : 剑来

Trang chủ › : 剑来 › Chương 37

Chương 37 - Địa Tiên Hòa Hoài Tây Đích Loa Tử

☰ DS Chương 📖 3,309 chữ

- Địa Tiên?

Lâm lang quân, cháu gọi Hoàng Sào bằng cậu, nghe Tần Ngạn nói vậy thì kinh ngạc đến há hốc miệng, tưởng chừng nhét vừa cả quả táo.

Dĩ nhiên hắn biết “Địa Tiên” trong lời Tần Ngạn không phải tiên nhân, mà là thứ quái vật được đồn rằng người chết có thể sống lại, hóa thành.

Chu Ôn cười lạnh:

- Xem ra vị “Tam Táng pháp sư” kia đã tới.

- Tam Tạng pháp sư? Chẳng phải đó là pháp sư Huyền Trang đi lấy kinh ở Tây Thiên hồi đầu triều sao?

Hoàng Sào lắc đầu:

- Không phải chữ “Tạng” trong Bồ Tát Địa Tạng, mà là chữ “Táng” trong chôn cất. Với lại, “Táng” cũng là họ của người này.

Lâm Ngôn sửng sốt:

- Trên đời lại có họ hiếm đến thế ư?

Hoàng Sào thản nhiên đáp:

- Táng Thứ sử Dĩnh Châu, thân phận khác của hắn là môn chủ Ngự Thi môn ở Tương Tây.

Ông chẳng thấy chuyện đó có gì lạ.

Người giang hồ ra làm quan trong triều vốn chẳng hiếm. Chẳng hạn Lôi Ân Phù, phán quan giám quân Chiêu Nghĩa, hiện đang bị nghĩa quân vây khốn trong thành Tống Châu, chẳng khác nào chim trong lồng. Hắn xuất thân từ Lôi gia của Bích Lịch Đường.

Trận Liệt Bi Cốc trước đó, quân Vương Tiên Chi từng bị Lôi Ân Phù dùng tên và túi thuốc nổ của Bích Lịch Đường đánh cho thiệt hại không ít. Nay Lôi Ân Phù cũng tổn thất nặng nề trong trận đại chiến ở Tống Châu, phải trốn vào thành, hoảng hốt như chó nhà có tang. Phe quân Thảo xem như đã đòi lại được món nợ ấy.

Người ta vẫn bảo, vào cửa quan cũng là một con đường tu thân lập nghiệp. Dân giang hồ nếu kiếm được một chức quan thì chẳng bị xem là tay sai triều đình, trái lại còn lấy làm vinh dự.

Dẫu thứ họ nhận được chẳng qua chỉ là chút vụn vặt rơi ra từ kẽ tay các môn phiệt thế tộc.

Chu Ôn dứt khoát nói:

- Đệ tử lập tức dẫn quân đi cứu viện!

Ở mấy cửa thành bị quân Hoàng Sào vây hãm, quân triều đình cũng đang dốc sức mở đường máu đánh ra. Mạnh Khải không có mặt, còn Đoạn Hồng Yên cùng mấy tướng lĩnh khác đều đã lâm vào khổ chiến.

Rõ ràng đợt tấn công này đã được tính toán từ trước. Sau khi âm thầm liên lạc với người trong thành, địch quân đồng loạt đánh cả trong lẫn ngoài.

Nghĩa quân đã vây kín thành Tống Châu, vậy mà đối thủ vẫn liên lạc được với người trong thành. Hẳn chúng cũng cài người vào nghĩa quân, nhờ đó mới vượt qua vòng phong tỏa.

- Cậu…

Lâm Ngôn hơi ngập ngừng, nhưng rồi lấy hết can đảm:

- Cháu sẽ cùng tướng doanh Chu Ôn đi cứu viện!

Thiếu niên vốn gầy gò, nhút nhát, chẳng mấy chủ kiến ấy, đến lúc nguy cấp rốt cuộc cũng cho thấy mình đáng tin.

- Tốt!

Hoàng Sào vỗ tay đánh đét:

- Hai người lập tức dẫn kỵ binh nhẹ đi tiếp viện. Bộ binh của ta sẽ theo sau!

Vị “Táng Thứ sử” tự xưng “Tam Táng pháp sư” kia hẳn không dễ đối phó.

Nhưng Hoàng Sào không dặn dò những lời thừa thãi như “cẩn thận làm việc”. Sau trận quyết chiến đẫm máu ở Tống Châu, ông đã tin chắc vào tài cán của Chu Ôn.

Chu Ôn và Lâm Ngôn lên ngựa, dẫn kỵ binh rời doanh.

Khi hai người tới nơi, trước mắt chỉ còn cảnh tan hoang hiu quạnh.

Cờ xí đổ gãy ngổn ngang. Lũy chiến sụp đổ, vấy đầy những vệt máu xanh còn chưa khô. Lửa tràn khắp tường trại bằng gỗ, nhảy múa trong gió hè, hơi nóng phả thẳng vào mặt.

Giữa mùa hè, quả là thời tiết thích hợp nhất để dùng hỏa công.

Khi vây thành, Vương Tiên Chi không giăng trại liền nhau suốt bảy trăm dặm như Lưu Bị bị hỏa công ở Di Lăng thời Tam Quốc, mà chỉ dựng công sự vây thành ngay trước cổng.

Nhưng xem ra quân hắn cũng chẳng đề phòng hỏa hoạn cho tốt.

Sách xưa như thiên Hàn Phi Tử từng dạy, dựng doanh trại phải cẩn thận trát kín các kẽ hở để ngăn lửa, dùng đất tro lấp những khe hở trên vách gỗ. Gỗ liền thành một khối như vậy sẽ khó bén lửa hơn.

Quân Vương Tiên Chi hiển nhiên chẳng có ý thức phòng bị ấy.

Trong mắt Chu Ôn và Lâm Ngôn, doanh trại đã tan tác hoàn toàn. Quân của Vương Tiên Chi đang cuống cuồng tháo chạy, cố kết thành đội ngũ chống lại quân triều đình truy kích.

Chu Ôn cảm nhận luồng khí nóng phả tới, đưa tay trái quạt mồ hôi trên mặt.

Mặc mỗi bộ giáp da mỏng mà vẫn nóng quá… Hắn thầm than. Nếu môn “Hàn Băng Kình” trong truyền thuyết thật sự tồn tại, tiểu gia nhất định phải luyện thử, ít ra mùa hè còn có thể giải nhiệt.

Hắn chợt nhớ đến công pháp mà “Tuyết soái” Tề Khắc Nhượng tu luyện. Chẳng phải môn ấy có thể khiến sương bay giữa tháng Sáu sao? Chỉ không biết hiệu quả ấy có kéo dài mãi được không.

Chu Ôn lại trông thấy một toán kỵ binh triều đình cầm trường mâu, phóng ngựa qua lại. Đúng như Tần Ngạn nói, bọn chúng đều cưỡi la.

Thứ vật nuôi to xác nom nửa giống lừa nửa giống ngựa ấy không đẹp mắt, nhưng bước chân rất vững. Kỵ sĩ thúc la chầm chậm xông đến trước mặt bộ binh nghĩa quân của Vương Tiên Chi, mũi mâu vừa hất lên đã nhấc cả người lẫn khiên của lính bộ lên không trung. Chúng rơi phịch xuống đất, chẳng khác nào những bao cát rách.

- Quân la Khuê Tây.

Chu Ôn cảm khái:

- Không ngờ trấn Khuê Tây diệt vong đã sáu mươi năm mà triều đình vẫn giữ được dòng quân này.

Tiểu tướng Hoắc Tồn dưới trướng Chu Ôn nói:

- Binh Khuê Tây nổi tiếng tinh nhuệ, giáp trụ đứng đầu thiên hạ. Triều đình có đề phòng đến đâu, sao nỡ dễ dàng bỏ mất?

Trấn Khuê Tây đã diệt vong tròn sáu mươi năm.

Nhưng đến nay nơi ấy vẫn rất nổi danh, bởi trấn Khuê Tây từng cát cứ chống triều đình gần sáu mươi năm.

Đỉnh điểm ngang ngược, triều đình điều quân từ mười sáu đạo đi đánh, rốt cuộc vẫn bị chúng đánh cho tan tác, phải rút lui.

Sau này, dù Đường Hiến Tông phục hưng triều chính, người vẫn phải huy động quân từ mười sáu đạo, dốc binh lực cả nước, đánh ròng rã ba năm mới dẹp được phiên trấn Khuê Tây. Trong thời gian ấy, triều đình cũng nếm không ít lần thất bại thảm hại.

Bởi vậy, dù Khuê Tây đã bại, người đất ấy vẫn kiêu hãnh, luôn miệng khoe rằng: “Binh Khuê Tây tinh nhuệ, đứng đầu thiên hạ!”

Quân Khuê Tây còn có một đặc điểm. Vùng ấy chẳng có bao nhiêu ngựa chiến, nên binh lính cưỡi la đánh trận. Vậy mà họ thường đánh cho đội kỵ binh tinh nhuệ của triều đình đại bại.

- Xem ra trận này, minh chủ Vương thua cũng chẳng oan.

- Vì quân Khuê Tây tinh nhuệ vẫn lợi hại như xưa sao?

Lâm Ngôn hỏi.

Chu Ôn lắc đầu:

- Không chỉ vậy. Vì sao chúng ta chỉ nghĩ đến khả năng quân của Diễm soái xuôi dòng Bắc Biện Hà mà xuống? Bởi sau loạn An Sử, việc nuôi ngựa của triều đình sa sút. Bây giờ không riêng gì nghĩa quân chúng ta thiếu ngựa, quân quan cũng thiếu ngựa chẳng kém.

Hoắc Tồn chen lời:

- Cho nên chúng ta mới đoán sai tốc độ kéo đến của địch.

Chu Ôn nói:

- Vì quên mất đám la Khuê Tây. Dĩnh Châu ở sát Khuê Tây, dĩ nhiên có thể gọi đám la đã ngủ yên sáu mươi năm kia ra dùng.

Sáu mươi năm đã trôi qua. Binh Khuê Tây chẳng còn là binh Khuê Tây năm xưa, la của họ cũng không còn là những con la cũ.

Chẳng biết chúng đã đổi qua bao nhiêu thế hệ.

Nhưng nhìn đám kỵ la trước mặt tiến lui có phép, đánh nhau vẫn ung dung, Chu Ôn đành phải thừa nhận một điều:

- Xem ra, thứ khó đối phó hơn Địa Tiên lại là đám la kia.

Đang nói, một Địa Tiên khoác đạo bào rách rưới, mình đầy lông xanh, nồng nặc mùi thối rữa lắc lư lao bổ về phía Chu Ôn.

Trên ngựa, Chu Ôn vung bảo đao chém mạnh. Ánh đỏ quét ngang, đánh trúng cổ nó, vang lên một tiếng đục. Đầu nó chỉ còn dính với thân bằng một mảng da thịt.

Cái đầu rũ xuống, vẻ mặt ngơ ngác, vậy mà thân thể vẫn tiếp tục bước tới. Chu Ôn bồi thêm một đao, chém đứt hẳn cổ nó. Cái đầu rơi ầm xuống đất, thân thể vẫn lao về phía hắn. Chu Ôn thúc ngựa tránh sang bên. Cái xác không đầu nhanh chóng ngã nhào, nằm im bất động.

- Đám Địa Tiên này trông thì ghê gớm thật.

Chu Ôn chỉ tay về phía toán nghĩa quân của Vương Tiên Chi đang bị mấy chục Địa Tiên lông xanh lẻ tẻ dọa cho chạy tán loạn trên chiến trường:

- Nhưng chúng chậm chạp vụng về. Mối đe dọa vẫn không bằng đám la.

- Với lại, người chết là chết, phần nhiều chẳng thể biến thành Địa Tiên được.

Chu Ôn chỉ vết máu vừa phun xuống đất từ chỗ cổ Địa Tiên đứt lìa:

- Ta đoán thuật điều khiển xác chết của Ngự Thi môn được truyền đời này sang đời khác, thực ra là bắt người sống uống một loại thuốc bí truyền, khiến họ biến thành thứ người chẳng ra người, quỷ chẳng ra quỷ như vậy.

Hắn thở dài:

- Thật quá mất nhân tính.

Hoắc Tồn cau mày suy nghĩ:

- La là con của lừa đực với ngựa cái. Nghe nói móng lừa đen có thể khắc chế Địa Tiên.

Hắn bỗng vỗ tay, vẻ mặt như vừa hiểu ra:

- Lão đại, đệ hiểu rồi. Thảo nào la còn lợi hại hơn Địa Tiên!

- Nói hay lắm.

Chu Ôn tỏ vẻ rất tán thưởng suy luận của thiếu niên:

- Với lại, ta nhớ ngươi từng nói muốn làm một tướng kỵ binh.

- Làm tướng kỵ binh, bắt sống địch là một bản lĩnh rất quan trọng. Nhóc con, ngươi xông lên bắt một tên kỵ binh Khuê Tây cùng cả con la của hắn về đây. Đừng làm mất mặt người dưới trướng Chu Ôn ta!

- Tuân quân lệnh!

Hoắc Tồn thúc ngựa, phóng vọt về phía một kỵ binh Khuê Tây cưỡi la.

Đối phương đang cầm giáo truy sát đám quân bại trận của Vương Tiên Chi. Thấy Hoắc Tồn xông tới, hắn vội treo cây giáo lên hông, giương cung bắn nhanh. Hoắc Tồn lập tức nghiêng người nép bên bàn đạp, tránh mũi tên sắc bén. Chớp mắt, hắn đã áp sát.

Kỵ sĩ kia đành dùng trường giáo đâm tới tấp xuống đầu Hoắc Tồn. Hoắc Tồn giơ khiên da bên tay trái, chặn ngang cán giáo đang vội vàng đâm tới. Chiến mã dưới thân hắn lập tức áp sát. Hắn vung đao chém thẳng vào ngực kỵ sĩ.

Kỵ sĩ ngửa người tránh, nhưng đâu nhanh bằng đao trên lưng ngựa. Sống đao dày nặng giáng một tiếng keng lên tấm hộ tâm kính trước ngực hắn, tia lửa bắn tung. Kỵ sĩ kêu thất thanh, trượt chân rơi khỏi yên.

Hoắc Tồn cười lớn, vươn tay chộp lấy người kia giữa không trung, nhẹ bẫng như nhấc một đứa trẻ. Tay trái hắn giật lấy dây cương, tiện thể dắt luôn con la đang ngây ra tại chỗ, rồi kéo cả người lẫn vật về trận.

Chu Ôn khoe với Tần Ngạn, Lâm Ngôn và các tướng khác:

- Tiểu tử tên trùng với nhị ca ta này từng làm giặc ngựa. Bản lĩnh cưỡi ngựa của hắn, ngay cả ta cũng không bằng.

Chu Tồn vẫn đứng bên cạnh, cười ngây ngô như thể chuyện chẳng can hệ gì đến mình. Thuở hai anh em thu phục đám cướp ở Đồng Sơn, Hoắc Tồn từng chém bị thương cánh tay Chu Ôn. Chu Ôn giận dữ, suýt xử tử hắn ngay tại chỗ. Chính Chu Tồn nhìn ra tài năng, giữ lại thiếu niên có thiên phú làm tướng kỵ binh ấy. Nhưng chuyện đó, cần gì kể cho người khác nghe?

- Bẩm tướng doanh, Hoắc Tồn đã hoàn thành quân lệnh, bắt được một kỵ binh địch về dâng!

Hoắc Tồn hơi thở dốc. Gương mặt còn non nớt của hắn lộ rõ vẻ đắc ý chẳng giấu vào đâu được.

Chu Ôn khẽ gật đầu, tỏ ý khen ngợi.

Binh sĩ lập tức xông tới bắt tên kỵ sĩ cưỡi la mà Hoắc Tồn quẳng xuống đất, trói hắn chặt như đòn bánh tét.

Thời Đường, bắt sống quân địch là cách đánh vào sĩ khí rất phổ biến. Trong quân thậm chí còn có những tướng chuyên đi bắt sống. An Lộc Sơn, kẻ đầu sỏ làm loạn An Sử, thuở đầu cũng dựa vào chức “tướng bắt sống” mà gây dựng danh tiếng.

Đám kỵ binh la Khuê Tây đang giết chóc hăng say, chỉ trong chớp mắt đã bị bắt mất một người. Chúng vừa tức vừa kinh, miệng không ngừng chửi rủa.

Chu Ôn chẳng cho chúng thời gian phản ứng. Hắn vừa phất tay, kỵ sĩ quân Thảo lập tức lao vào trận địch, nhanh như mây bay điện xẹt!

La tuy to xác, nhưng khi xông pha trận mạc vẫn không bằng ngựa. Quân Khuê Tây cưỡi la đánh trận chủ yếu dựa vào hai đòn. Một là tận dụng sức bền và tốc độ của la để cơ động thật nhanh, sau đó xuống đất đánh bộ. Hai là cưỡi la bắn tên, quấy nhiễu và sát thương địch như bầy ong vỡ tổ.

Giữa ngày hè oi ả, kỵ sĩ quân Thảo đều mặc giáp nhẹ. Muốn tránh tên bắn như mưa của kỵ binh la, họ chỉ còn cách dốc sức thúc ngựa lao lên, bất chấp sống chết, chạy thật nhanh để giảm cơ hội trúng tên.

Nơi binh đao dựng xác đầy đồng, quyết tử thì mới sống, ham sống thì ắt chết.

Kỵ binh Hoắc Tồn đột phá trở về sau khi bắt sống được địch, khiến sĩ khí quân Thảo tăng vọt, đồng thời làm kỵ binh la Khuê Tây mất mặt.

Chớp lấy thời cơ, Chu Ôn và mọi người xếp đội hình mũi tên thưa, đâm thẳng vào trận địch. Tần Ngạn giương cờ, thúc ngựa lao đi. Kỵ binh phía sau tản ra, chuyển thành hàng ngang, xông vào giữa trận la đã bị chia cắt, chém giết tung hoành.

Họ phóng ngựa đến đâu, kỵ sĩ la ở đó liền bắn tên ào ào, cố ngăn họ áp sát.

Một kỵ sĩ trúng tên của quân la, kêu thảm rồi ngã ngựa. Con ngựa mất chủ vẫn phóng thẳng về trước, húc ngã một Địa Tiên lông xanh.

Địa Tiên ngã xuống rồi lại lảo đảo bò dậy.

Con ngựa giẫm qua nó còn bị nó cắn mạnh vào chân.

Con ngựa không người cưỡi ngơ ngác một lúc, rồi quay đầu định chạy về trận mình. Nhưng mặt ngựa bỗng nổi lên sắc xanh kỳ lạ. Nó thở hổn hển, rồi phát điên chạy vòng quanh, khi thì lại dựng vó đá mạnh ngay tại chỗ. Cuối cùng, nó rống lên một tiếng đau đớn, ngã nghiêng xuống đất, làm bụi tung mù mịt.

Đám hào kiệt quân Thảo vừa nãy còn như chim ưng, lượn vòng đi vòng lại trong trận la, xông pha mấy lượt, giờ cũng thoáng biến sắc.

Ngự Thi môn Tương Tây là một môn phái vô cùng bí ẩn. Trong lời đồn giang hồ, môn phái ấy lúc nào cũng bị bao phủ bởi tầng tầng màn sương.

Điều có thể khẳng định là suốt hơn hai trăm năm qua, môn phái này vẫn phục vụ cho triều Đường. Nhưng Địa Tiên của Ngự Thi môn được đưa ra chiến trường thật sự rất ít lần.

Giờ xem ra, dù Địa Tiên là người chết sống lại hay người sống uống thuốc bí truyền mà hóa thành quái vật, vẫn có mấy điểm chắc chắn.

Thứ nhất, chúng có sức sống cực kỳ dai dẳng. Bị con ngựa nặng mấy trăm cân tông trúng mà vẫn tỉnh bơ bò dậy.

Thứ hai, răng chúng có độc. Bị cắn một phát là có thể chết rất nhanh.

Thứ ba, chúng phân biệt được địch ta, không tấn công đồng đội phe mình.

Chỉ riêng những điểm đó đã đủ biến Địa Tiên thành vũ khí đáng sợ của quân triều đình!

Lâm Ngôn ghìm ngựa, vung đao chém một kỵ binh la rơi khỏi yên rồi giật dây cương, thúc ngựa chạy đi. Hắn nói với Chu Ôn:

- Xem ra Địa Tiên cũng chưa chắc dễ đối phó hơn đám la.

Chu Ôn vừa quay ngựa trở về trận vừa nói:

- Vừa rồi đám la bị chúng ta đánh cho bất ngờ, nhất thời chưa kịp xoay xở. Lâm lang quân cứ nhìn kỹ đi, sẽ thấy kỵ binh la đông hơn quân ta nhiều lắm.

Lâm Ngôn giật mình, chăm chú nhìn sang. Quả nhiên, kỵ binh la đang nhanh chóng tập hợp lại, chỉnh đốn đội ngũ. Bọn chúng vốn là tinh binh, đánh trận rất có phép tắc. Một khi kịp hoàn hồn, tuyệt đối không phải loại dễ đối phó.

Hắn kinh ngạc hỏi:

- Vậy chẳng phải chúng ta chỉ còn cách chuồn thôi sao?

- Chưa đến nỗi.

Chu Ôn điềm tĩnh đáp:

- Minh chủ Vương đang ở phía tây thành. Còn phó minh chủ Liễu xem ra đã tranh thủ lúc chúng ta tới tiếp viện, tập hợp lại binh mã. Trước khi sư tôn dẫn bộ binh tới đây, chúng ta vẫn cầm cự được một lúc.

Lâm Ngôn nhìn quanh. Quả nhiên, phó minh chủ Chấn Y Minh, Liễu Ngạn Chương, đang cưỡi ngựa xanh, cầm một cây trường thương, dẫn mấy chục kỵ binh quân Vương Tiên Chi vừa tập hợp lại, từ sườn chéo lao vào trận la.

Phía sau, bộ binh quân Thảo cũng lần lượt động viên nhau, một lần nữa kết thành trận thương khiên và đao khiên.

Liễu Ngạn Chương không giỏi dùng trường mâu lắm, nhưng công phu nền tảng vẫn còn đó. Cánh tay trông gầy gò của hắn vung thương lên lại mạnh như núi. Một thương quét ngang, lập tức hất văng một kỵ binh la khỏi lưng con vật. Tên kia bay ngang, đâm sầm vào một kỵ binh khác, khiến hắn cũng rơi khỏi yên, chẳng khác nào đánh cầu.

Liễu Ngạn Chương chắp tay trên ngựa, lớn tiếng cảm tạ:

- Nhờ có hiền điệt Lương Ngọc giúp sức! Nếu không, quân ta e rằng đã chẳng có cơ hội chỉnh đốn lại đội ngũ!