Hơn hai nghìn mẫu ruộng nhà họ Phòng đều là đất đồi. Thế đất tuy khá thoải, nhưng chẳng mấy màu mỡ. Riêng chuyện lấy nước tưới tiêu đã đủ khiến người ta đau đầu. Thêm vào đó, cách canh tác thời này còn lạc hậu, thu hoạch được nhiều mới là chuyện lạ.
Gieo hạt xuống đất rồi phó mặc cho trời, không chết đói đã là may lắm rồi…
Làm sao để tăng sản lượng lương thực đây?
Nhà họ Phòng có khối cách. Phân bón tốt, giống lúa tốt, cách cày cấy tiên tiến…
Thậm chí, liệu có thể lai tạo ra giống lúa nước mới không?
Phòng Tuấn nhìn cánh đồng phủ tuyết trắng, đôi mắt sáng rực. Tim hắn đập rộn lên. Xem ra làm một ông chủ đất nhỏ cũng không tệ?
Dĩ nhiên, hắn sinh ra dưới lá cờ đỏ, lớn lên trong thời đại mới. Dù có quay về cổ đại làm một ông chủ đất nhỏ, hắn cũng phải là người có lý tưởng, có mục tiêu, có bản lĩnh, có lương tâm. Còn chuyện năm thê bảy thiếp ấy à… khụ khụ, cũng có thể tính.
Ngôi nhà năm lớp sân này nhìn từ ngoài tưởng rộng mênh mông, nhưng bên trong lại chẳng lấy gì làm thoáng đãng. Bù lại, mọi thứ đều đâu vào đấy, phảng phất không khí sách vở. Quả là một gia đình nề nếp, nhiều đời đèn sách.
Phòng Tuấn xuống ngựa, chắp tay sau lưng, thong thả bước vào nhà.
Hai bên cổng chính có đôi sư tử đá đầu tròn bụng lớn, dáng vẻ ngây ngô. Trục chính của cả khu nhà nằm giữa hai pho tượng ấy. Các dãy nhà trong sân đối xứng hẳn nhau từ nam ra bắc. Chính đường nằm ngay trên trục giữa, bên trái có nhà phụ và dãy nhà ngang, bên phải cũng vậy. Các phòng nối tiếp nhau, đối diện từng đôi một.
Bố cục trông chẳng khác mấy căn nhà sân vuông mà hắn quen thuộc, chỉ có điều sắp đặt chặt chẽ hơn, sân trời cũng nhỏ hơn. Nhà cửa chạm trổ khéo léo, tinh tế, nhưng hơi bí bách.
Mặt bằng tuy chật, bù lại nhà cửa cao tầng hiếm thấy. Trừ chính sảnh và dãy nhà ngang ở sân thứ hai, những khu sân phía sau đều có nhà hai, ba tầng. Mỗi sân có bốn gian đối xứng ở hai bên. Phía trước là nhà chính, hai bên đông tây là nhà ngang, phía nam là sảnh ngược. Bốn dãy nhà đối nhau thành hình vuông, giữa là sân trời, trông như từng khu nhà sân vuông thu nhỏ.
Từ sân thứ ba đến sân thứ năm, những dãy hành lang quanh co chia thành sáu khu vườn riêng biệt mà vẫn thông với nhau. Nhà cửa bố trí có lớp lang, sân nọ liền sân kia, cửa đối cửa, hành lang nối liền, đi đâu cũng thuận tiện. Hòn non bộ, ao nước, cây cối xanh um điểm giữa tường trắng ngói đen. Đến mùa hè, hẳn nơi đây sẽ xanh cây đỏ hoa, núi nước thanh u, quả là chốn tránh nóng tuyệt vời.
Bước vào chính đường, Phòng Tuấn bất giác thở dài.
Ở đây không có bàn ghế. Trên sàn gỗ được lau bóng loáng chỉ kê mấy chiếc sập vuông thấp, chân sập ngắn, mặt trải chiếu và đệm. Đó chính là “sập” trong câu “quét sập chờ khách”.
Ghế xếp kiểu Hồ vốn bị xem là đồ của người man di. Trong phòng ngủ đặt đôi chiếc thì được, chứ không thể đem ra nơi trang trọng.
Chẳng biết từ đâu, Thúy Nhi bưng chén trà bước ra, phía sau còn có Võ Mị Nương.
Hai nàng đều khoác áo lông cáo, ôm lấy dáng người thon thả. Riêng Võ Mị Nương, chiếc cổ áo cáo trắng càng làm gương mặt ngọc đẹp như hoa thêm vẻ mờ ảo, bí ẩn. Trông nàng chẳng khác nào hồ ly tinh tu luyện thành hình, chuyên đi câu hồn đoạt phách…
Ánh mắt nóng rực của Phòng Tuấn khiến gương mặt xinh đẹp của Võ Mị Nương ửng đỏ. Nàng hơi bối rối, nhưng lòng lại ngọt ngào. Nàng nhẹ nhàng bước tới, đặt khay lên chiếc bàn thấp rồi khẽ cắn môi:
- Phòng ngủ vẫn chưa thu xếp xong. Nhị lang nghỉ một lát, dùng chút điểm tâm trước đi.
Nàng dịu dàng, đoan trang, cốt cách thanh nhã.
Phòng Tuấn thầm cảm khái. Đây chính là nữ hoàng Võ Tắc Thiên sau này, người nắm cả thiên hạ trong tay sao? Khác xa quá…
Thúy Nhi cũng đặt chén trà lên bàn thấp. Gương mặt nhỏ nhắn tươi rói, đầy vẻ mong chờ:
- Nhị lang, mau nếm thử trà thiếp nấu đi. Thiếp học lâu lắm rồi, hắn uống lúc còn nóng nhé!
Lần trước Phòng Tuấn uống trà nàng nấu đến nỗi nôn cả ra, đả kích Thúy Nhi không nhẹ. Cô a hoàn quyết tâm học cho kỳ được, bèn mua bao nhiêu thức ăn ngon biếu các bà vú trong phòng bà Lư, nhờ vậy mới học được cách nấu trà cao tay. Giờ nàng tự thấy mình đã thành nghề, nóng lòng dâng món lên cho hắn nếm thử.
Nghĩ đến thứ “trà” đặc sánh như canh dầu lần trước, Phòng Tuấn lại thấy buồn nôn. Cơ mặt hắn giật mấy cái. Thứ ấy tuyệt đối không thể uống, uống vào chết người như chơi…
Nhưng nếu không uống, chẳng phải sẽ phụ tấm lòng của Thúy Nhi sao? Nhìn vẻ mặt mong được khen của cô a hoàn, hắn lại chẳng nỡ từ chối.
Chẳng lẽ hắn phải diễn một màn Phật Tổ xả thân cứu hổ, róc thịt nuôi chim ưng?
Đúng lúc ấy, Lư Thành xuất hiện, cứu Phòng Tuấn khỏi cảnh khốn cùng.
Nghe tin Phòng Tuấn đến trang trại, Lư Thành vội vàng chạy tới. Vừa trông thấy hắn, ông đã chắp tay, vẻ mặt thấp thỏm:
- Nhị lang, tiểu nhân phụ lòng giao phó rồi…
Phòng Tuấn sững ra, hỏi:
- Không làm được sao?
Lư Thành cười khổ:
- Cái nồi lẩu thì không khó, đã làm xong rồi. Xe ngựa cũng đóng xong, chỉ tiếc bộ phận hình xoắn ốc kia. Tiểu nhân đã dẫn người thợ rèn giỏi nhất lò ngày đêm nghiên cứu, nhưng vẫn chưa tìm ra cách làm…
Phòng Tuấn thở phào:
- Lò xo quả thật khó làm. Ta đã nghĩ quá đơn giản. Không có loại thép đủ độ đàn hồi thì lấy đâu ra lò xo? Lò rèn cách đây bao xa?
Lư Thành đáp:
- Ngay sườn đồi phía sau trang trại.
Phòng Tuấn vội nói:
- Mau dẫn ta đi xem…
Nói rồi, hắn kéo Lư Thành đi như chạy trốn.
Thúy Nhi cuống quýt gọi với theo:
- Nhị lang, trà còn chưa uống mà…
Nàng không nói thì thôi, vừa lên tiếng, Phòng Tuấn đã chạy nhanh hơn thỏ…
Võ Mị Nương đưa mắt nhìn hai người, gương mặt đầy vẻ ngờ vực. Xe ngựa? Nồi lẩu? Lò xo? Đó là những thứ quái quỷ gì vậy?
Ra khỏi trang trại, men theo con đường nhỏ bằng phẳng quanh co lên tận đỉnh đồi, ngoặt hai khúc, họ bước vào một thung lũng nhỏ.
Trong thung lũng có một dãy nhà gạch cũ nát. Trên sườn đồi là mấy cửa hang tối om, bên ngoài chống ván gỗ và cột trụ, rõ ràng để ngăn hang sập.
Chết tiệt!
Phòng Tuấn nhìn mà ngẩn người. Chẳng lẽ đây là hầm mỏ?
Lư Thành cặn kẽ giải thích:
- Năm năm trước, thợ rèn phát hiện một mạch quặng sắt vàng ở đây, đã trình báo triều đình. Khi bệ hạ ban thưởng cho các quan, gia chủ chịu thiệt. Trong lòng bệ hạ vẫn áy náy, nên lúc ấy đã ban mạch quặng này cho gia chủ. Chỉ tiếc thợ rèn nhìn lầm, sản lượng quặng sắt vàng chẳng bao giờ cao.
Phòng Tuấn cạn lời. Hắn học nông nghiệp, nhưng cũng từng học hóa. Quặng pyrit mà đem luyện sắt ư? Đừng đùa nữa. Pyrit là hợp chất sắt với lưu huỳnh, nguyên liệu chính để sản xuất lưu huỳnh và axit sulfuric.
Dù hắn cũng chẳng biết phải chiết xuất thế nào…
Nhưng chắc chắn không thể dùng nó để luyện sắt!
Khoan đã…
Ánh mắt Phòng Tuấn lướt sang bên thung lũng, chợt thấy một đống quặng đen sì chất ở đó. Đó là thứ gì? Pyrit đâu có màu này. Hay là than đá?
Hắn bước tới, cầm lên một miếng quặng có vân như vảy. Mặt quặng nhẵn mịn. Trong đầu hắn chợt lóe lên một ý nghĩ.
Chẳng lẽ là than chì?
Trời đất ơi, phen này phát tài rồi!
Đây là vật liệu chịu lửa tốt nhất! Ai cũng biết sắt thép thời cổ khó đạt chất lượng cao, một phần vì quặng sắt kém, phần quan trọng khác là nhiệt độ luyện thép không đủ!
Phòng Tuấn lập tức nghĩ đến thứ lợi khí dùng để luyện thép: nồi nấu bằng than chì!
Nhưng rồi lại nảy ra vấn đề. Hắn học nông nghiệp, sai chuyên môn mất rồi. Nồi ấy làm thế nào, hắn đâu có biết…
Phòng Tuấn buồn bực khôn xiết. Hắn vốn chỉ định giúp Đại Đường giải quyết chuyện no ấm, chẳng lẽ còn phải khơi mào một cuộc cách mạng công nghiệp thời Trung Cổ?