- Ai lại viết thư cho hổ yêu? Chẳng phải con hổ ấy xưa nay vẫn trốn tránh tu sĩ, không để tu sĩ biết tung tích của mình hay sao?
Cả ba người đều không sao hiểu nổi. Với tính nết cẩn thận của hổ yêu, lẽ ra bên ngoài ngọn núi chẳng ai hay biết sự tồn tại của nó mới phải.
- Niệm Niệm, trong thư viết gì vậy?
Mạnh Cảnh Chu hắng giọng, dùng chất giọng đầy cảm xúc đọc lên:
- Huynh hổ, đã nhiều ngày không gặp. Dạo này vẫn khỏe chứ?
- Huynh hành sự cẩn trọng, không muốn lộ mặt cho tu sĩ chính đạo biết mình tồn tại, chỉ ra tay với phàm nhân. Cách tu luyện từng bước chắc chắn như vậy khiến tiểu đệ bội phục. Có điều, tu luyện theo lối ấy rốt cuộc vẫn chậm. Nay thời thế lớn sắp mở ra, hào kiệt bốn phương cùng nổi dậy, các thế lực đều nhòm ngó Trung Châu. Chẳng phải huynh cũng nhân cơ hội này rời quê hương, thoát khỏi dòng dõi Cùng Kỳ, lén từ Yêu Vực tiến vào Tùng Sơn đó sao?
- Cẩn thận cái gì mà cẩn thận, hai người đừng chen nữa, để ta đọc cho mà nghe chẳng được à?
Lục Dương và Man Cốt kẹp Mạnh Cảnh Chu ở giữa, cúi đầu đọc thẳng nội dung bức thư.
- Ngươi đọc chậm quá.
- Ta đọc nhanh lên là được chứ gì. Hai người tránh ra.
Mạnh Cảnh Chu đẩy cả hai sang bên, rồi đọc tiếp:
- Cẩn thận vốn chẳng phải sai lầm lớn, nhưng trong thời buổi đang hồi sinh này, phải gan dạ hơn mới chớp được cơ duyên. Huynh hãy buông tay đánh một phen, tinh luyện huyết mạch, hóa thành Cùng Kỳ thuần huyết. Chỉ như vậy, huynh mới có chỗ đứng trong thời đại sắp tới.
- Tiểu đệ cả gan khuyên huynh và phu nhân cùng gia nhập phân đà Yên Giang của ta, lấy tu sĩ làm con mồi, cùng nhau mưu tính đại sự!
- Trong thư có tín vật của tiểu đệ. Huynh chỉ cần cầm tín vật ấy đến phân đà Yên Giang tìm tiểu đệ, tiểu đệ có thể tiến cử huynh làm chấp sự.
- Tiểu đệ Tần Nguyên Hạo kính bút.
Bức thư không dài, nhưng từng câu từng chữ lại để lộ rất nhiều điều.
Lục Dương suy nghĩ rồi nói:
- Trong thư viết hổ yêu không muốn để tu sĩ chính đạo biết mình tồn tại. Cách nói này hơi lạ. Người bình thường chẳng ai gọi thẳng là “tu sĩ chính đạo”, trừ phi kẻ viết thư đứng ở phía đối lập với chính đạo. Tên Tần Nguyên Hạo này là tu sĩ ma đạo sao?
Như vậy cũng giải thích được vì sao có tu sĩ biết tình hình của hổ yêu mà không trình báo.
Ở Trung Châu, chính đạo chiếm ưu thế tuyệt đối. Yêu, ma, quỷ vốn là đồng minh tự nhiên của nhau. Lấy hổ yêu làm ví dụ, nó không tự mình ra tay hại người, mà sai quỷ tay sai lừa người đến trước mặt mình.
Hổ yêu mang huyết mạch Cùng Kỳ, lại chắc chắn đã đạt cảnh giới Kim Đan. Tu sĩ ma đạo muốn lôi kéo nó cũng là chuyện hợp tình hợp lý.
- Nói vậy thì phân đà Yên Giang là một cứ điểm của ma giáo?
Mạnh Cảnh Chu gật đầu:
- Ma giáo thích lấy địa danh đặt tên cứ điểm. Chỉ không biết phân đà Yên Giang này thuộc ma giáo nào.
Cũng như chính đạo có năm tiên môn, tu sĩ ma đạo cũng có tông phái của riêng mình, gọi là bốn đại ma giáo.
Ma giáo là giáo phái, không phải môn phái. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ chúng có thờ phụng một tồn tại hùng mạnh nào đó hay không.
Niềm tin của bốn đại ma giáo không giống nhau. Có người nói tín ngưỡng của chúng đại diện cho bốn vị tiên nhân. Lại có người cho rằng bốn loại tín ngưỡng ấy chẳng qua chỉ là bốn hóa thân của một vị tiên nhân. Bao nhiêu lời đồn, chẳng ai biết đâu là thật.
Ma giáo rất ít khi để lộ tin tức ra ngoài. Tung tích của chúng lúc ẩn lúc hiện, triều đình Đại Hạ và năm tiên môn từng nhiều lần liên thủ truy tìm, vậy mà vẫn chưa thể tìm ra đại bản doanh.
Mỗi lần tu sĩ chính đạo nhổ sạch một loạt cứ điểm ma giáo, giáo chúng lại mọc lên như nấm sau mưa, giết mãi cũng không hết.
Nói thì ma giáo thần bí khó lường, thủ đoạn quỷ quyệt, lòng dạ độc ác, khiến người ta nghe tên đã lạnh sống lưng. Nhưng thật ra chẳng qua chính đạo quá mạnh, khiến chúng không dám ló mặt, chỉ dám lén lút giở trò.
Chỉ cần tìm được sào huyệt ma giáo, chẳng cần năm tiên môn ra tay. Triều đình Đại Hạ điều binh khiển tướng, năm ngày là đủ lật tung nơi ấy, trong vòng một tháng có thể quét sạch toàn bộ hang ổ.
Đó là sự tự tin của chính đạo.
Ma đạo suy cho cùng vẫn là thứ không thể bước ra ánh sáng.
Lục Dương giũ giũ phong thư. Từ trong đó rơi ra một tấm thẻ bằng xương. Trên thẻ lưu lại một luồng chân khí đặc biệt, hiển nhiên là thủ đoạn do tên giáo chúng ma giáo Tần Nguyên Hạo để lại, người ngoài không thể bắt chước.
Man Cốt nói:
- Chúng ta có thể cầm tấm thẻ này gia nhập ma giáo không?
Phát hiện một cứ điểm ma giáo là công lao lớn, giá trị vượt xa việc diệt hai con hổ yêu.
Lục Dương lắc đầu:
- Không được. Chúng ta cầm thẻ của hắn đến gia nhập phân đà Yên Giang, Tần Nguyên Hạo nhất định sẽ biết.
- Hơn nữa, chúng ta còn chẳng biết phân đà Yên Giang ở đâu. Gia nhập bằng cách nào?
- Vậy phải làm sao? Man Cốt hỏi.
- Đã gọi là phân đà Yên Giang, hẳn phải nằm trong quận Yên Giang. Chúng ta đến đó dò hỏi, xem có ai tên Tần Nguyên Hạo hay không, rồi bám theo hắn để tìm ra phân đà Yên Giang. Kẻ dám tự xưng là tiểu đệ trước mặt hổ yêu thì tu vi chắc chắn không cao hơn hổ yêu. Chúng ta giết hắn, sau đó dùng tấm thẻ này, cứ nói mình là cố nhân của Tần Nguyên Hạo, tìm đến nương nhờ. Ai ngờ hắn đã chết rồi.
- Hay đấy!
Mạnh Cảnh Chu và Man Cốt cùng sáng mắt lên.
- Lục soát thêm đi, xem còn thứ gì tốt nữa không.
Lục Dương hăm hở thúc giục Mạnh Cảnh Chu tiếp tục làm việc.
Mạnh Cảnh Chu lục ra một cây cỏ đỏ tươi như máu, chỉ lớn bằng bàn tay, trông mang vẻ yêu dị.
- Cỏ máu ngọc bích, sao gân lá lại có màu đỏ?
Mạnh Cảnh Chu hơi ngờ vực. Công dụng chính của cỏ máu ngọc bích là giải độc, gân lá vốn có màu xanh lam, trông như dòng sông uốn lượn trên mặt đất. Vì sao cây này lại mang những đường gân đỏ?
Lục Dương ngồi xổm xuống nhận xét một hồi rồi nói:
- Ngươi quên rồi sao? Với nhân tộc, cỏ máu ngọc bích chủ yếu dùng làm nguyên liệu luyện thuốc giải độc. Nhưng với yêu tộc thì không phải vậy.
- Cỏ máu ngọc bích có công dụng tinh luyện huyết mạch. Rất có thể hổ yêu vẫn dùng máu của mình tưới lên cây, thúc cho nó mau lớn, khiến nó dần thích nghi với huyết mạch Cùng Kỳ. Nhìn tình hình này, vài tháng nữa cây cỏ sẽ hoàn toàn chín. Sau khi hổ yêu ăn vào, huyết mạch Cùng Kỳ sẽ tinh thuần thêm một bậc, nhờ đó thuận thế kết thành Kim Đan.
Chữ “máu” trong tên cỏ máu ngọc bích cũng bắt nguồn từ nguyên do ấy.
Kiến thức về loài cỏ này, Lục Dương nghe được từ Tiểu Dược Vương.
- Cây cỏ này đã không thể dùng để luyện thuốc giải độc nữa, chỉ có yêu tộc ăn vào mới giúp thanh lọc huyết mạch.
Mạnh Cảnh Chu đưa cây thuốc cho Lục Dương và Man Cốt.
- Nếu vậy thì các ngươi cất đi. Ngày rằm hằng tháng, trong chợ của tông môn có thể đem ra bán. Chắc sẽ đổi được giá khá hời.
Lục Dương và Man Cốt nhường qua nhường lại một hồi. Cuối cùng Man Cốt vẫn không thắng nổi Lục Dương, đành nhận lấy cây cỏ.
Mạnh Cảnh Chu nhắc nhở:
- Ngươi đừng ăn cỏ máu ngọc bích. Man tộc thượng cổ cũng là một nhánh của nhân tộc, thứ này chẳng có tác dụng gì với huyết mạch của ngươi đâu.
Man Cốt tiếc nuối khẽ “ồ” một tiếng.
Tương truyền, man tộc thượng cổ bắt nguồn từ một màn cầu hôn đầy lãng mạn.
Thuở xa xưa, nhân tộc sống rải rác theo từng bộ lạc. Người mạnh nhất trong bộ lạc được gọi là dũng sĩ.
Một ngày nọ, hai bộ lạc tình cờ gặp nhau. Dũng sĩ nam của bộ lạc này để mắt đến dũng sĩ nữ bên kia, bèn cất tiếng cầu hôn:
- Cô em, cười một cái cho ông đây xem. Ông vui thì sẽ cưới cô.
Nữ dũng sĩ cười hì hì, vung tảng đá nện ngược trở lại. Hai người lập tức quần nhau một trận. Cuối cùng, nữ dũng sĩ chiếm phần hơn, kéo nam dũng sĩ vào nhà. Đêm ấy, cả hai thức trắng.
Mười tháng sau, chiến sĩ man tộc đầu tiên ra đời.